Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]

Chương 68:



Lượt xem: 11,555 | Cập nhật: 17/03/2026 16:44

Ngày Phàn Trường Ngọc lên đường, Trịnh Văn Thường vội vàng viết thư cho Hạ Kính Nguyên.

Trước đó Hạ Kính Nguyên biết tin Trường Ninh bị bắt, đã hồi âm bảo hắn ta tìm cách ổn định Phàn Trường Ngọc.

Trịnh Văn Thường vẫn chưa biết đứa trẻ bị kẻ nào bắt đi, để cho Phàn Trường Ngọc một lời giải thích, bèn nói dối rằng có thể do bọn buôn người chuyên bắt cóc nữ tử trẻ nhỏ trong thành Kế Châu làm.

Cứ ngỡ Phàn Trường Ngọc sẽ yên tâm đợi tin quan phủ triệt phá ổ nhóm buôn người, nào ngờ cô nương kia xách đao mổ lợn, bản thân lại cùng quan binh xông vào hang ổ bọn chúng, tự mình tìm người.

Kế hoạch ban đầu mất một hai tháng mới dẹp sạch các ổ nhóm, không ngờ lại rút ngắn xuống còn nửa tháng một cách thái quá, khiến tâm trạng Trịnh Văn Thường rất vi diệu.

Quan phủ đối với nghĩa sĩ giúp đỡ tróc nã tội phạm luôn có tiền thưởng, Phàn Trường Ngọc vì nhận được quá nhiều tiền thưởng, lại thêm chiến tích huy hoàng một mình địch lại Thanh Phong Trại bảo vệ mười mấy người hàng xóm trước đó, nay trên giang hồ cũng đã có chút danh tiếng, người đời gọi là “Đồ tể Tây Thi”.

Giữa đám phỉ khấu tàn dư không thành khí ở thành Kế Châu lưu truyền một câu: Cướp đường mà gặp cô nương xinh đẹp xách đao mổ lợn thì đừng có nảy sinh ý đồ xấu, cứ ngoan ngoãn để cô nãi nãi đó đi qua, bằng không… hang ổ cũng bị nàng bứng tận gốc.

Một số cô nương dân gian khi đi xa, không ngoại lệ đều mua một con đao mổ lợn xách theo làm bùa hộ mệnh, không ngờ lại thực sự có hiệu quả, khiến các tiệm rèn và tiệm đao mổ lợn nhất thời cung không đủ cầu.

Đến khi Hạ Kính Nguyên nhận được thư, người có tâm trạng vi diệu lại đổi thành ông ấy.

Trước khi Tạ Chinh dẫn hai vạn tân binh rời đi, còn đặc biệt dặn dò ông ấy chiếu cố Phàn Trường Ngọc ở phủ Kế Châu xa xôi, sự việc phát triển đến mức này, thực sự Hạ Kính Nguyên cũng không lường trước được.

Ông ấy vốn hy vọng hai tỷ muội Phàn gia sống bình phàm cả đời này, đừng dính dáng đến những chuyện phía sau phu phụ Phàn gia nữa, nhưng giờ xem ra không thể rồi.

Thân vệ canh giữ ngoài lều, chỉ nghe thấy ông ấy thở dài một tiếng nặng nề.

Mặt trời treo cao, cỏ cây hai bên quan đạo đều đã đâm chồi nảy lộc.

Phàn Trường Ngọc vừa gặm lương khô vừa cưỡi trên lưng ngựa, không rảnh rỗi thưởng thức cảnh xuân trên đường, chỉ thầm cảm thấy kỳ lạ, đi suốt quãng đường này lại chẳng gặp lưu dân nào, chẳng lẽ trong mấy tháng qua những người nên chạy đều đã chạy hết rồi sao?

Lương khô có hơi nghẹn, khi Phàn Trường Ngọc lấy bình nước định uống thì phát hiện nước cũng chẳng còn bao nhiêu.

Nàng nhìn dòng suối chảy song song với quan đạo, xuống ngựa lấy nước, nước suối rất cạn, nếu không đưa bình đến chỗ những tảng đá lỗ chỗ để hứng mà trực tiếp múc dưới suối thì chỉ được nửa bình.

Phàn Trường Ngọc uống vài ngụm nước trong vắt mát lạnh, đổ đầy bình xong đang định tiếp tục lên đường thì phía ngã rẽ phía trước có một nam tử quần áo rách rưới lảo đảo chạy tới, từ xa nhìn thấy nàng liền hô lớn: “Cô nương cứu ta!”

Phàn Trường Ngọc tưởng gã ta là sơn tặc, treo bình nước lên lưng ngựa, lập tức rút đao chặt xương của mình ra, khi nam tử sắp đến gần, vẻ mặt nàng ung dung thản nhiên chĩa mũi đao về phía gã ta, thành công khiến gã ta dừng lại cách nàng ba bước chân.

Đi đường xa bên ngoài, Phàn Trường Ngọc không dám khinh suất, trước đó nàng từng cùng người của quan phủ đi triệt phá ổ buôn người, rất nhiều cô nương trẻ tuổi bị bắt cóc chính vì lòng tốt khi gặp trẻ nhỏ hoặc người già, bị lừa đến nơi vắng vẻ rồi bị bọn chúng trùm bao tải kéo đi.

Nàng quan sát nam tử, hỏi: “Gặp sơn tặc sao?”

Nam tử lắc đầu, khuôn mặt đen đỏ vì lao động quanh năm đầy mồ hôi, hai tay chống đùi thở dốc nói: “Quan binh triều đình không làm người, muốn bắt lương dân bọn ta đi sửa đập nước…”

Tiếng vó ngựa hỗn loạn áp sát, nam tử rõ ràng hoảng hốt sợ hãi, cầu khẩn Phàn Trường Ngọc: “Ta vào rừng trốn một lát, cô nương đừng nói ra hành tung của ta, tôi trên có lão mẫu dưới có con thơ, nếu bị bắt đi, tám phần là phải bỏ mạng dưới roi da của đám quan binh kia, già trẻ trong nhà biết làm sao đây?”

Gã ta khẩn thiết đến mức suýt nữa thì dập đầu với Phàn Trường Ngọc, nói xong liền đâm đầu vào bụi rậm ven đường.

Phàn Trường Ngọc tiêu hóa tin tức nam tử vừa nói, thầm nghĩ hèn gì mùa xuân rồi mà nước suối vẫn cạn như thế, hóa ra là ở thượng nguồn đập nước đã chặn dòng, cả đoạn đường này không thấy lưu dân, lẽ nào cũng đã bị bắt đi sửa đập?

Nàng không vội lên đường, nhìn con ngựa cúi đầu ăn cỏ non ven đường, còn đưa tay xoa xoa cổ ngựa.

Khi tiếng vó ngựa hỗn loạn đến gần, có đến mười mấy kỵ binh, đều là quan binh mặc giáp, vì đây là ngã rẽ, tên cầm đầu ghì cương ngựa hỏi Phàn Trường Ngọc: “Có thấy một nam tử đi ngang qua đây không?”

Trên quan đạo này đi suốt chẳng thấy mấy người, nói không thấy thì quá giả tạo.

Phàn Trường Ngọc gật đầu: “Thấy qua.”

Nàng thấy quan binh mà không hề sợ hãi, trên lưng ngựa còn dắt mấy con đao, lại mặc một thân kỵ trang gọn gàng, quan binh coi nàng là nữ tử hành tẩu giang hồ nên cũng không nghi ngờ gì, chỉ hỏi: “Hắn đi đường nào?”

Phàn Trường Ngọc chỉ vào con đường rẽ bên cạnh: “Đường này.”

Quan binh đầu lĩnh nhìn nàng một cái, nhưng không hạ lệnh cho toàn quân đuổi theo đường đó ngay, mà điểm hai người tiếp tục đuổi theo con đường Phàn Trường Ngọc vừa đi tới, còn mình thì dẫn hơn phân nửa đuổi theo con đường rẽ kia.

Phàn Trường Ngọc mặt không cảm xúc nhìn đám quan binh chạy xa, trong lòng lại nghĩ sao chẳng giống trong thoại bản viết chút nào vậy? Đợi đến khi quan binh chạy mất hút, nàng mới nói với bụi rậm nơi nam tử ẩn nấp: “Ra đi, quan binh đi hết rồi.”

Nam tử chật vật chui ra, cảm kích khôn cùng với nàng: “Ta thay mặt cả nhà già trẻ cảm tạ cô nương.”

Phàn Trường Ngọc nói: “Tiện tay mà thôi, không cần nói cảm ơn. Đúng rồi, ta chỉ đường kia cho quan binh nhưng vẫn có hai người đuổi theo đường sau lưng ta, ngươi xem hay là vào bụi rậm trốn tiếp một lát, quan binh chạy phía trước không thấy người có lẽ sẽ quay lại tìm, đợi bọn họ quay lại rồi ngươi hãy chạy theo đường này.”

Nam tử liên tục cảm ơn nhưng không có ý định rời đi, gã ta lúng túng nhìn bọc hành lý lớn trên lưng ngựa của nàng, liếm môi khô khốc: “Cô nương, ngươi có đồ ăn không? Ta trốn quan binh mấy ngày rồi chưa được miếng gì vào bụng cả.”

Trong bọc đồ của Phàn Trường Ngọc có không ít lương khô, nàng nhìn nam tử rồi nói: “Ta lấy cho ngươi.”

Để cởi nút thắt của bọc đồ cần dùng cả hai tay, Phàn Trường Ngọc cất đao chặt xương vào bao da trên lưng ngựa, đưa tay cởi bọc đồ.

Cánh tay bị trật khớp của nàng đã gần khỏi hẳn, chỉ là thỉnh thoảng xách vật nặng vẫn hơi tốn sức, để hồi phục nhanh hơn, những ngày qua nàng hầu như không dùng tay đó làm việc nặng.

Lúc Phàn Trường Ngọc quay lưng lấy đồ ăn, vẻ mặt thật thà của nam tử trong nháy mắt trở nên dữ tợn, con găm giấu trong tay áo đâm thẳng vào lưng nàng.

Nhưng vang lên một tiếng “keng”, mũi dao như đâm vào một tấm sắt, không tiến thêm được mảy may, nam tử rõ ràng sững sờ.

Tay cởi bọc đồ của nàng khựng lại, quay đầu lạnh lùng nhìn gã ta: “Lừa ta?”

Nam tử thần sắc dữ tợn, rút dao găm định cắt cổ nàng, Phàn Trường Ngọc giáng một cước cực mạnh vào bụng gã ta, đá văng gã ta đi xa hơn một trượng.

Không biết có phải nội tạng bị dập nát không, nam tử không giữ nổi dao găm, hai tay ôm bụng đau đớn lăn lộn trên mặt đất.

Trước khi quyết định lên đường một mình, Phàn Trường Ngọc đã chuẩn bị rất nhiều biện pháp, chẳng hạn như tìm thợ rèn đúc hai tấm sắt cực kỳ kiên cố, một tấm đặt trước ngực, một tấm đặt sau lưng, là sợ trên đường gặp phải chuyện ngoài ý muốn.

Nàng xách đao mổ lợn đi tới, định trói kẻ này lại vứt ở đây, đợi quan binh quay lại thì đưa đi, còn mình thì chuồn trước.

Bằng không nàng suýt nữa thả một tội phạm quan trọng, lại còn lừa dối quan binh đang tróc nã tội phạm, không chừng bị khép tội đồng lõa.

Nào ngờ tiếng vó ngựa nhanh chóng quay lại phía này, tên quan binh đầu lĩnh nhìn thấy Phàn Trường Ngọc và nam tử đó, sắc mặt khó coi cực độ, binh lính dưới trướng cũng dùng cung nỏ chĩa vào Phàn Trường Ngọc.

Phàn Trường Ngọc vội nói: “Quân gia, trước đó ta bị kẻ này lừa, hắn nói mình là dân chúng bị bắt đi sửa đập, trong nhà còn lão mẫu thê nhi, cầu xin ta che giấu hành tung, vừa nãy còn định hạ độc thủ với ta, đã bị ta khống chế rồi.”

Quan binh đầu lĩnh lạnh lùng đánh giá nàng, phân phó quân tốt phía dưới: “Trói lại, mang đi hết.”

Phàn Trường Ngọc cuống quýt: “Quân gia, ta thực sự oan uổng! Lúc trước lừa gạt quân gia là ta sai, nhưng ta cũng đã chế phục tên gian ác này, có thể lấy công chuộc tội, miễn tội cho ta được không?”

Quan binh đầu lĩnh hừ lạnh một tiếng: “Kẻ này là trinh sát của quân Sùng Châu, ai biết ngươi có phải mật thám hay không, thấy không mang được tên trinh sát này đi nên mới hợp mưu diễn vở kịch này.”

Phàn Trường Ngọc không ngờ mình lại dính vào chuyện lớn như vậy, vội nói: “Quân gia, trên người ta có hộ tịch văn thư, ta là người Kế Châu, thật sự không phải mật thám!”

Nàng vừa nói vừa móc hộ tịch văn thư của mình ra, vì quan binh không cho nàng lại gần nên nàng chỉ có thể ném cho quan binh đầu lĩnh kia xem.

Quan binh đầu lĩnh sau khi xem xong hỏi: “Đã là người Kế Châu, đang lúc chiến loạn, cớ sao lại chạy về phía biên cảnh Tây Bắc?”

Từ quan đạo này có thể đi Sùng Châu, cũng có thể đi Yến Châu, Phàn Trường Ngọc sợ bị coi là đồng bọn nên không dám nói là đi Sùng Châu nữa, bèn đáp: “Ta đi Yến Châu tìm thân nhân.”

Chiến loạn lưu dân thành tai họa, đi châu phủ khác cũng hiếm khi đến quan phủ xin lộ dẫn.

Sắc mặt quan binh đâu lĩnh không hề dịu đi: “Làm sao ta biết được hộ tịch văn thư này không phải là giết người cướp được?”

Hắn ta quay đầu ngựa, lớn tiếng ra lệnh: “Mang đi!”

Phàn Trường Ngọc: “…”

Thật không thể xui xẻo hơn được nữa!

Bị một hàng cung nỏ chĩa vào, nàng chỉ đành cam chịu buông đao, bị bọn họ trói hai tay mang về quân doanh.

Phàn Trường Ngọc chỉ biết Lư Thành có đồn binh mã, nhưng không biết trên đoạn đường ra khỏi Kế Châu lại có mấy vạn đại quân đóng giữ, còn đang sửa một đập nước quy mô khá lớn.

Sau khi Phàn Trường Ngọc bị đưa về quân doanh, nàng bị tạm giữ vào một gian phòng giam, ngựa, hành lý, đao mổ lợn đều bị thu giữ, ngay cả hai tấm sắt nàng giấu trong người, thời điểm khám xét cũng bị bà tử lấy đi mất.

Đồ ăn quan binh canh giữ đưa cho nàng mỗi ngày, ngoài nước ra thì chính là lương khô trong bọc đồ của nàng, bị ép giam giữ, cơm tù còn phải tự túc, khiến Phàn Trường Ngọc càng thêm bực bội.

Hai ngày sau, nàng mới bị đưa ra khỏi phòng giam, đã điều tra rõ nàng không phải mật thám, nhưng lại không thả nàng đi, nàng cùng những người dân quần áo rách rưới khác đứng cạnh nhau, được phát một cái cuốc và một cái giỏ, quan binh bảo bọn họ đi đào đất đá, hai người một nhóm, nếu một buổi sáng không đào đủ mười giỏ thì buổi trưa không có cơm ăn.

Phàn Trường Ngọc lúc này mới biết, những người này đều là lưu dân đi ngang qua đây, bị cưỡng ép giữ lại, có vẻ quan binh sợ bọn họ tiết lộ chuyện sửa đê, nhưng nếu cứ giam giữ mà vẫn phải nuôi cơm thì quan binh bèn để bọn họ đi khai thác đất đá.

Đa số lưu dân vì để được no bụng nên vẫn sẵn sàng làm những công việc chân tay này.

Phàn Trường Ngọc bị giữ lại, không ngoài dự tính cũng là vì quan binh sợ nàng trên đường đi Yến Châu đi ngang qua Sùng Châu sẽ làm lộ phong thanh gì đó.

Nàng không biết sửa một con đê sao phải làm thần thần bí bí như vậy, trong lòng vẫn lo lắng cho sự an nguy của Trường Ninh, nghĩ thầm giờ đã ra ngoài rồi, cũng có thể mượn việc lên núi đào đất đá để nắm rõ địa hình xung quanh, như vậy mới có thể lập kế hoạch chạy trốn.

Nàng vừa đến, những người khác đã sớm lập đội xong, đa phần là nam nhân, trong chuyện liên quan đến việc có cơm ăn hay không thì chẳng ai biết thương hoa tiếc ngọc. Những phụ nhân tay chân mạnh khỏe thấy Phàn Trường Ngọc tuy cao ráo nhưng người lại thanh mảnh, sợ nàng không làm được việc nên cũng chẳng ai muốn lập đội cùng.

Phàn Trường Ngọc cảm thấy một mình nàng một buổi sáng đào mười giỏ chắc cũng không khó, nhưng quan binh thấy nàng và một lão đầu gầy gò không có ai lập đội, trực tiếp bảo nàng và lão đầu đó một đội, có lẽ cho rằng bọn họ một là nữ lưu yếu đuối, một là lão già khú đế, thể lực không bằng người khác nên để bọn họ một buổi sáng đào năm giỏ là được.

Phàn Trường Ngọc xách giỏ và cuốc theo hơn phân nửa lên núi khai thác đất đá, lão đầu cầm cái cuốc của mình mà đi cũng hổn hển, suốt dọc đường cái miệng không ngừng nghỉ, cứ luôn miệng mắng quan binh, chỉ là mắng cực kỳ văn nhã, miệng toàn là “chi hồ giả dã”, đừng nói là dân chúng cùng đi đào đất, ngay cả đám quan binh cũng chẳng hiểu lão đang lẩm bẩm cái gì.

Trong bọc đồ của Phàn Trường Ngọc còn để cuốn “Tứ Thư” do Ngôn Chính chú giải, lúc rảnh rỗi nàng cũng xem vài bài, nên cũng hiểu được chút ít, còn những lời trích dẫn kinh điển thì cũng nghe mà hoàn toàn mờ mịt.

Nàng thấy ông lão kia sắp thở không ra hơi, chợt nhớ tới thợ mộc Triệu cũng bằng chừng tuổi này mà theo quân, trong lòng có chút không đành lòng, dùng cuốc thay đao tước một cành cây thô trên cây xuống, gọt sạch cành con và đầu nhọn, đưa cho lão đầu làm gậy chống, đưa tay muốn đặt cái cuốc của lão đầu vào giỏ, nói: “Để cháu cầm giúp ngài cho.”

Mồ hôi lão đầu sắp rớt xuống mí mắt, thấy Phàn Trường Ngọc là một cô nương gia nên không đưa, bướng bỉnh nói: “Lão phu tự mình cầm được.”

Một phụ nhân bên cạnh nhìn thấy bèn nói: “Cô nương, ngươi đừng có để ý lão già này, tính tình quái gở lắm!”

Phàn Trường Ngọc nhận ra ông lão này thuộc kiểu miệng lưỡi đao nhưng tâm đậu phụ, cười cười không để bụng.

Đến nơi khai thác đất đá, Phàn Trường Ngọc sức lớn, hầu như không tốn mấy công sức đã đào đầy năm giỏ, quan binh ghi chép không khỏi nhìn nàng bằng con mắt khác.

Việc vận chuyển đất đá không cần bọn họ làm, có lừa thồ hoặc hai quan binh dùng đòn gánh khiêng.

Hoàn thành lượng công việc buổi sáng nhưng những người khác vẫn đang đào, Phàn Trường Ngọc cũng không tiện nghỉ ngơi lộ liễu, bèn vừa giả vờ đào vừa trò chuyện với ông lão kia: “Lão nhân gia, ngài là người đọc sách, sao cũng bị đưa đến đây vậy?”

Lão đầu hậm hực nói: “Lão phu nghe nói Yến Châu mượn hai vạn binh mã của Kế Châu, liền đoán được thượng nguồn sông Vu nhất định là muốn sửa đập nước, vốn định tới xem đập nước sửa thế nào rồi, lại bị đám quan binh kia coi là mật thám bắt lại, lũ ranh thật là, lũ ranh thật là!”

Phàn Trường Ngọc nói: “Lão nhân gia, náo nhiệt nào cũng có thể xem, chứ náo nhiệt đánh trận sửa đập thế này, sau này vẫn là đừng có ham nữa.”

Lão đầu bị hiểu lầm là tới xem náo nhiệt rồi bị bắt, tức đến râu vểnh cả lên, cho đến tận lúc dùng bữa trưa cũng không thèm để ý đến Phàn Trường Ngọc.

Buổi sáng Phàn Trường Ngọc thong dong nhàn nhã đào được tám giỏ đất đá, lúc lấy cơm lại được quan binh khen thưởng, được thêm một cái bánh bao, nàng định nhường cho ông lão kia, nhưng lão đầu nhìn bánh bao hừ một tiếng, rõ ràng là khinh thường, thế là nàng cũng chẳng khách sáo tự mình thu lại.

Sức nàng lớn hơn người thường, lượng cơm ăn tự nhiên cũng lớn, biết đào thêm đất đá có thể lĩnh thêm đồ ăn, buổi chiều nàng đào luôn mười hai giỏ, thành công lĩnh thêm hai cái bánh bao nữa.

Lão đầu vẫn không ngừng mắng chửi người một cách văn nhã, không phải mắng quan binh ở đây, thì là mắng thối tiểu tử thối gì đó.

Phàn Trường Ngọc bưng bát cháo ngậm bánh bao tò mò hỏi: “Đó là nhi tử ngài ạ?”

Lão liếc nàng một cái: “Coi như nửa đứa nhi tử.”

Phàn Trường Ngọc “ồ” một tiếng: “Hóa ra là nữ tế của ngài.”

Lão lại bắt đầu trợn mắt vểnh râu: “Là học trò của lão phu! Đồ nha đầu ranh không có kiến thức!”

Phàn Trường Ngọc đại khái là đã quen với thói độc mồm trước kia của Ngôn Chính, cũng không chấp nhặt với lão đầu mạnh miệng lòng mềm này, ngược lại vì học thức của lão mà tăng thêm mấy phần kính trọng, nàng dày mặt nói: “Ngài trước đây là phu tử ạ? Cháu có tự học ‘Luận Ngữ’, có thể thỉnh giáo ngài vài vấn đề không?”

Lão đầu nghe nàng nói là tự học, không khỏi kinh ngạc nhìn nàng một cái: “Tự học?”

Thần sắc Phàn Trường Ngọc hơi tối lại, cười cười nói: “Phu tế trước đây của cháu cũng là người đọc sách, huynh ấy chưa kịp dạy xong Tứ Thư cho cháu đã phải đi rồi, có làm chú giải để cháu tự xem.”

Lão đầu có lẽ cảm thấy trẻ tuổi mà thủ tiết cũng thật đáng thương, hiếm khi không còn ngạo mạn nữa, nói một câu: “Nén bi thương thuận theo tự nhiên.”

Phàn Trường Ngọc ngẩn ra, phản ứng lại vội vàng nói: “Huynh ấy chưa chết, huynh ấy bị trưng binh bắt đi.”

Lão đầu tức đến mức râu bên khóe miệng cũng vểnh lên: “Thế mà ngươi nói nghe như hắn chết rồi vậy!”

Phàn Trường Ngọc: “…”

Yến Châu.

Dãy núi Yến Sơn phía xa sừng sững trong đêm tối như sống lưng rồng, tuyết chưa tan trên đỉnh núi lờ mờ thấy một mảnh trắng xám xịt.

Hàng ngàn lều quân đóng dưới chân núi, những chậu lửa dựng trên giá ba chân rải rác giữa các lều quân, củi gỗ nổ lách tách cháy rực, soi sáng doanh địa.

Trong lều trung quân, Tạ Chinh nhìn bản đồ bố phòng quân sự của Yến Châu và Sùng Châu, ngón tay chỉ vào một chỗ nói với các thuộc cấp dưới trướng: “Sùng Châu phái năm vạn binh mã vây Lư Thành, năm vạn binh lực còn lại cũng không thể coi thường, đến lúc đó ta đích thân đi dụ địch, các ngươi dẫn người mai phục tại Nhất Tuyến Hiệp…”

Hắn đột nhiên lấy tay che mặt hắt hơi một cái.

Nhóm thuộc cấp đang cung kính ngồi trước bàn dài đều ngẩn người.

Tuyết trên Yến Sơn tuy đã tan, nhưng hễ vào đêm là lạnh lẽo vô cùng.

Tạ Chinh đã sớm thay sang bộ áo xuân mỏng, vai rộng eo hẹp, dung nhan như ngọc, là kiểu võ tướng có vóc dáng đẹp nhất trong mắt các quý nữ kinh đô.

Hắn nhíu mày, tiếp tục bố trí, lúc tạm nghỉ chốc lát, thân binh vào thêm nước trà, săn sóc mang cho hắn một chiếc áo dày.

Tạ Chinh mặt lạnh như băng nhìn thân binh đang bưng quần áo, thân binh đành liều mạng nhỏ giọng nói: “Đêm lạnh sương nặng, Hầu gia cẩn thận cảm lạnh.”

Tạ Chinh: “… Cút ra ngoài.”