Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]

Chương 117:



Lượt xem: 11,803 | Cập nhật: 17/03/2026 16:44

Phàn Trường Ngọc đã hai ngày một đêm không được ngủ ngon giấc, lại bôn ba suốt một ngày đường, lại ở trên chiến trường chém giết đến mức kiệt sức, giấc ngủ này nói là ngủ, chi bằng nói là nửa hôn mê thì đúng hơn.

Nàng tỉnh lại lần nữa đã là trưa ngày hôm sau, ngoài những vết thương hở miệng đầy máu, sự đau nhức của cơ bắp toàn thân trong ngày hôm nay cũng đã đạt đến đỉnh điểm, chỉ cần cử động một chút là đau đến mức nhe răng trợn mắt, Phàn Trường Ngọc tự mình suýt chút nữa không xuống nổi giường.

Nữ y tên A Hồi đến thay thuốc cho nàng, nàng bảo sau lưng đau đớn lạ thường.

A Hồi nhìn những vết bầm tím và tím thẫm trên người nàng, xót xa nói: “Trên người Đô úy không chỉ có vết đao rìu kiếm chém, mà cả tấm lưng đều tím bầm rồi. Để ta dùng rượu thuốc trị thương xoa bóp cho Đô úy.”

Phàn Trường Ngọc nói lời cảm ơn với nàng ta.

Trên chiến trường bị đám tử sĩ kia ép đến mức ngã ngựa, lăn lộn mấy vòng dưới đất, trong lúc đó còn phải né tránh những ngọn trường mâu búa rìu đâm chém tới, những vết thương do ngã và va đập như vậy, ngày hôm qua chưa rõ rệt, hôm nay sưng tấy lên, nhìn mới thấy đáng sợ.

Để thuận tiện cho A Hồi bôi thuốc, Phàn Trường Ngọc cởi áo bào, ngồi trên chiếc ghế tròn, nửa người phủ phục bên cạnh bàn.

Vết đao ở bụng nàng không sâu, tuy không thương tổn đến phủ tạng bên trong, nhưng vết cắt bị kéo rất dài, gần như rạch một đường đến bên hông, may mà cánh tay bị thương cũng nằm ở phía này, nên khi Phàn Trường Ngọc nằm ngửa bị chạm vào vết bầm phía sau đau quá, liền nghiêng nửa người bên kia để ngủ.

A Hồi giúp nàng gạt mái tóc đen nhánh ra phía trước, dùng tay lấy dầu thuốc giúp nàng xoa bóp từng chút một những chỗ bầm tím sau lưng, xoa một hồi, mắt đã đỏ hoe.

Nước da của Phàn Trường Ngọc vốn trắng hồng ấm áp, vì bị thương mà thiếu đi vài phần huyết sắc, khiến những vết bầm tím và vết thương càng trở nên chói mắt.

Khi một giọt nước mắt rơi xuống lưng Phàn Trường Ngọc, nàng ngơ ngác quay đầu lại, nhìn tiểu cô nương mắt đỏ như thỏ con, hỏi: “Sao thế?”

A Hồi dùng tay áo chật vật lau mắt, nghẹn ngào nói: “Đô úy chắc chắn là đau lắm phải không?”

Nhận ra tiểu cô nương đang xót xa cho mình, Phàn Trường Ngọc hơi sững sờ, sau đó mỉm cười nói: “Thật ra cũng không đau đến thế đâu.”

Nàng phủ phục lại trước bàn, khóe miệng đang cười dần mím lại thành một độ cong cô độc.

Sao có thể không đau được chứ?

Ngày trước nàng theo phụ thân học võ, thỉnh thoảng làm mình bị thương, nàng sợ xấu hổ nên cứng đầu nói không đau, mẫu thân kéo nàng vào phòng bôi thuốc, nàng nhe răng trợn mắt kêu đau, mẫu thân vừa dịu dàng quở trách nàng… Tất cả dường như chỉ mới xảy ra ngày hôm qua.

Nhưng nàng đã không còn phụ mẫu nữa, trên đời này cũng không còn ai để nàng có thể không chút kiêng dè mà kêu đau khi bị thương nữa.

A Hồi im lặng xoa xong dầu thuốc cho vết bầm sau lưng nàng, đột nhiên “Ơ” lên một tiếng: “Đô úy, chỗ này cũng bị thương này.”

Tiểu cô nương dùng bàn tay dính dầu thuốc quệt nhẹ vào vị trí sau gáy gần vai Phàn Trường Ngọc, nói: “Đỏ hồng cả lên.”

Phàn Trường Ngọc không để tâm: “Chắc là lúc ngã từ trên ngựa xuống bị sỏi đá trên mặt đất cấn vào.”

A Hồi nhìn chăm chú vào hai vệt đỏ bằng móng tay đó thêm vài lần, những vết cấn khác trên người Đô úy đều là màu xanh đen hoặc tím thẫm, chỉ có hai vệt này là màu đỏ, trông như mới vừa tạo thành không lâu.

Năm nay nàng ta vừa mới đến tuổi cập kê, vì phụ thân là quân y nên từ nhỏ cũng là mưa dầm thấm đât mà học chút y thuật, Phàn Trường Ngọc lại là nữ tử, nên mới đặc biệt để nàng ta đến băng bó thay thuốc.

Nàng ta từng nhìn thấy những vệt đỏ tương tự trên cổ một nữ tử chốn trăng hoa đến khám bệnh, lúc đó nữ tử chốn trăng hoa kia thấy nàng ta nhìn chằm chằm, liền dùng khăn lụa che môi khanh khách cười duyên.

Mẫu thân nàng ta thấy vậy liền lạnh mặt quở trách nàng ta, sau đó bảo nàng ta rằng đó không phải nữ tử đứng đắn, dặn nàng ta đừng tiếp xúc nhiều.

A Hồi hỏi mẫu thân, trên cổ người đó có vệt đỏ có phải bị bệnh không, mẫu thân nàng ta càng nghiêm khắc mắng nàng ta một trận, bảo cô nương nhà gia giáo phải biết liêm sỉ.

Đến nay A Hồi vẫn không biết đó là gì, nhưng thầm đoán chắc chắn không phải thứ gì tốt đẹp.

Nhưng sau gáy Đô úy cũng xuất hiện vệt đỏ như vậy…

A Hồi suy nghĩ nát óc một hồi không ra kết quả, chỉ thầm nhủ vệt đỏ trên người Đô úy chắc cũng là từ chiến trường mang về, khác với vệt trên người nữ tử chốn trăn hoa kia.

Phàn Trường Ngọc hoàn toàn không biết gì về chuyện này, bữa trưa A Hồi bưng cháo thịt nạc đến.

Quân y nói nàng đã lâu không ăn uống, cơ thể hư nhược không chịu nổi đại bổ, hiện tại tuyệt đối không được ăn uống quá độ, cần ăn ít và chia làm nhiều bữa.

Lúc đầu Phàn Trường Ngọc cũng không thấy đói lắm, nhưng một bát cháo thịt xuống bụng mà không thấy chút cảm giác no nào, nàng bưng bát không nhìn A Hồi, A Hồi có chút chịu không nổi ánh mắt như chú chó con đợi cơm của nàng, đôi lông mày xoắn xuýt vào nhau: “Phụ thân đã dặn rồi, buổi trưa Đô úy chỉ được uống một bát cháo trước thôi…”

Phàn Trường Ngọc cũng không nỡ làm khó một tiểu cô nương, sau khi đưa bát không cho A Hồi, nàng hỏi về Tạ Ngũ: “Người huynh đệ kia của ta thế nào rồi?”

A Hồi đáp: “Vẫn chưa tỉnh, nhưng sáng nay lúc ta có cho hắn uống thuốc, hắn đã có thể nuốt được theo bản năng rồi, phụ thân nói ăn được thứ gì vào thì tính mạng coi như giữ được.”

Đây có lẽ là tin tốt nhất đối với Phàn Trường Ngọc trong hai ngày qua, nàng vịnh vào cột giường đứng dậy: “Ta đi thăm hắn.”

A Hồi vội vàng chạy lại đỡ nàng: “Đô úy, chính người cũng đang bị thương nặng mà, phụ thân nói Đô úy phải nằm giường tịnh dưỡng vài ngày mới được.”

Phàn Trường Ngọc chỉ nói: “Ta da dày thịt béo, không sao đâu.”

Vóc dáng Phàn Trường Ngọc thuộc hàng cao trong đám nữ tử, A Hồi thấp hơn nàng không chỉ nửa cái đầu.

Khi đỡ nàng dậy, A Hồi nghiêng đầu là có thể thấy đường nét cằm của nàng rất đẹp. Ánh nắng buổi chiều rọi lên gương mặt nghiêng vẫn còn xanh xao vì trọng thương, những sợi lông tơ nhỏ xíu đều thấy rõ.

A Hồi nhìn đến đỏ cả mặt, thè lưỡi nói: “Đô úy mới không phải da dày thịt béo, Đô úy là cô nương đẹp nhất mà A Hồi từng thấy.”

Tiểu cô nương từng thấy một loại hoa lan trong sân phủ Thành chủ, lá như kiếm, sắc bén và cứng cỏi, cả khóm lớn như cây sắt, nhưng hoa nở ra lại trắng muốt như tuyết, nở rộ ngay chính giữa đống lá kiếm chồng chất, từng chùm lớn, đẹp đến kinh tâm động phách.

Đám hạ nhân trong phủ muốn hái, nhưng hoa bị lá kiếm che chắn, không dễ gì hái được.

Khi nhìn thấy Phàn Trường Ngọc người đầy thương tích, dù bản thân sợ hãi run rẩy khi giúp băng bó nhưng vẫn quay lại an ủi mình, A Hồi liền nghĩ đến loài hoa lan lá kiếm kia.

Nàng ta nghĩ, chắc chỉ có những bậc anh hùng cái thế trong thoại bản mới xứng đáng với một cô nương tốt như Đô úy thôi.

Tạ Ngũ vẫn đang hôn mê, sau khi Phàn Trường Ngọc đi thăm hắn ta, nàng lại đích thân hỏi quân y về tình trạng của Tạ Ngũ, quân y nói bị thương thành như vậy, giữ được mạng đã là không dễ dàng, cánh tay trái của hắn ta trúng một đao, tuy tay vẫn còn đó nhưng xương cốt bên trong đã gãy lìa, dù vết thương có lành thì cánh tay đó cũng phế đi.

Phàn Trường Ngọc nhìn thiếu niên trên giường bệnh, nghĩ đến tình cảnh hung hiểm ngày hôm đó, hắn ta còn dẫn người ra cứu mình, trong lòng không khỏi thấy buồn thương.

Nhưng hắn ta trúng nhiều đao như vậy mà vẫn giữ được mạng, đã là chuyện may mắn rồi.

Phàn Trường Ngọc đỏ hoe mắt nói: “Chỉ cần cứu được người về là tốt rồi.”

Nàng sợ phía quân y không đủ nhân thủ, Tạ Ngũ không được chăm sóc chu đáo, muốn điều hai người từ trong quân qua đây, nhưng A Hồi lại nói từ tối qua đã có người đến trông chừng Tạ Ngũ, nàng ta thấy đối phương lạ mặt nên hỏi vài câu, người đó nói là huynh đệ của Tạ Ngũ trong quân.

Phàn Trường Ngọc lập tức nghĩ đến Tạ Chinh.

Hắn đã đến Lư Thành, đám thân binh của hắn chắc chắn cũng đi theo.

Người đến trông chừng Tạ Ngũ tối qua, tám phần chính là đám huynh đệ cũ của hắn ta.

Sau khi biết Tạ Ngũ không còn nguy hiểm tính mạng, Phàn Trường Ngọc mới có tâm trí để từ từ suy ngẫm về mọi chuyện ngày hôm qua.

Nàng thật sự không ngờ lại gặp Tạ Chinh ở Lư Thành.

Sau khi Lý gia và Ngụy Nghiêm bắt đầu tranh đoạt quyền kiểm soát binh quyền ở Sùng Châu và Kế Châu, hắn mượn danh nghĩa lùng bắt dư nghiệt phản tặc để đi Khang Thành, từ đó không thấy trở về.

Từ Khang Thành đến Lư Thành còn xa hơn từ Sùng Châu tới, hắn có thể đến trong thời gian ngắn như vậy, chứng tỏ đại quân chắc chắn đã lên đường từ sớm.

Là hắn biết trước tin tức, hay là đại quân tình cờ ở gần Lư Thành?

Phàn Trường Ngọc đầy bụng nghi hoặc, hơn nữa… khi hắn nghe nàng gọi hắn là Hầu gia, nụ cười lạnh lùng và câu hỏi vặn đầy bức người đó có ý nghĩa gì?

Nghĩ đến ánh mắt hắn nhìn mình trước khi đi, trong lòng Phàn Trường Ngọc càng không thấy dễ chịu.

Nàng cưỡng ép cắt đứt dòng suy nghĩ, không để mình nghĩ về chuyện của Tạ Chinh nữa.

Tạ Ngũ đã không sao, đại sự hàng đầu hiện giờ là làm sao cứu Du Thiển Thiển.

Quân y và A Hồi canh giữ Phàn Trường Ngọc rất nghiêm, nàng lấy cớ đi bái biệt Hạ Kính Nguyên, quân y mới nới lỏng cho nàng rời khỏi viện dưỡng thương của các võ tướng, sợ nàng thương thế nặng đi lại bất tiện, còn đặc biệt để A Hồi đi theo.

Trong linh đường một màu trắng xóa, chữ “Điện” cực lớn trên cỗ quan tài đen nhánh ở giữa khiến lòng người nặng trĩu.

Phàn Trường Ngọc nén cơn đau ở bụng, quỳ xuống đất dập đầu ba cái, rồi mới thắp hương cho Hạ Kính Nguyên.

Hạ phu nhân đích thân đỡ Phàn Trường Ngọc dậy, trên mặt khó giấu vẻ đau đớn trầm trọng, nhưng vẫn hiền hậu nói: “Cháu chính là Trường Ngọc phải không, ta thường nghe lão gia nhắc về cháu.”

Sáng nay bà ấy mới nhận được tin, dẫn theo hai con vượt đường xa từ Kế Châu tới, mặc một bộ đồ tang trắng thêu đen, đôi mắt không giấu nổi vẻ mệt mỏi, bên thái dương cũng thấp thoáng sợi bạc, nhưng Phàn Trường Ngọc vừa gặp bà ấy đã thấy gần gũi.

Nàng khàn giọng gọi: “Bá mẫu.”

Hạ phu nhân đau buồn mỉm cười đáp lại một tiếng, sau đó lại an ủi nàng: “Đứa nhỏ ngoan, đừng khóc. Lư Thành giữ được rồi, lão gia dưới suối vàng có biết, cũng có thể mỉm cười.”

Phàn Trường Ngọc cố nén vị chua xót trong hốc mắt, gật đầu.

Hạ phu nhân thở dài một tiếng, lại nói: “Nghe nói cháu cũng ở trong quân, nếu gặp đứa nhỏ Văn Thường, hãy nhắn với hắn một tiếng, ta và lão gia đều không trách hắn, bảo hắn đừng tự trách mình.”

Phàn Trường Ngọc hỏi kỹ mới biết, thì ra nhát tay kia của nàng chém quá nặng, Trịnh Văn Thường mãi đến sáng nay mới tỉnh, tỉnh lại là đến quỳ trước linh cữu Hạ Kính Nguyên, không ăn không uống, cũng không nói năng gì, mãi đến khi Hạ phu nhân cùng hai con tới, hắn ta mới tránh đi, cảm thấy không còn mặt mũi nào gặp Hạ phu nhân.

Phàn Trường Ngọc gật đầu đồng ý ngay.

Dù nàng và Trịnh Văn Thường làm việc cùng nhau chưa lâu, nhưng cũng biết hắn ta kính trọng Hạ Kính Nguyên vô cùng, cái chết của Hạ Kính Nguyên đối với hắn ta mà nói, đả kích quả thực không hề nhỏ.

Phàn Trường Ngọc còn định lát nữa vào quân doanh tìm người, chẳng ngờ vừa ra khỏi linh đường, đã nhìn thấy người ở một góc khuất đầy dây leo cạnh tường viện.

Đối phương nhìn nàng với ánh mắt u ám, dường như đang đặc biệt đợi nàng.

Phàn Trường Ngọc định đi tới, A Hồi kéo cánh tay nàng lại, lắp bắp: “Đô… Đô úy, người kia nhìn hung dữ quá, có hiềm khích gì với Đô úy sao? Ngài hiện đang có thương tích…”

Phàn Trường Ngọc nói: “Là Trịnh tướng quân, đừng sợ.”

A Hồi lúc này mới thở phào một hơi.

Được A Hồi đỡ đi tới gần, Phàn Trường Ngọc gọi một tiếng: “Trịnh tướng quân.”

Trịnh Văn Thường đứng tựa lưng vào tường, phân nửa gương mặt ẩn trong bóng tối, râu lởm chởm dưới cằm, cả người toát ra vẻ suy sụp.

“Đô úy làm anh hùng, đã được như ý nguyện chưa?” Hắn ta ngẩng đầu, nhìn Phàn Trường Ngọc với ánh mắt giễu cợt.

A Hồi nghe người này phỉ báng Phàn Trường Ngọc, không màng sợ hãi, lập tức mắng: “Ngươi nói năng kiểu gì thế? Cái gì mà làm anh hùng? Ngươi có biết Đô úy chỉ còn lại nửa cái mạng mới được khiêng từ chiến trường về không! Nếu không có Đô úy, Lư Thành cũng không giữ được cho đến khi Hầu gia dẫn đại quân tới rồi!”

Trịnh Văn Thường nghe những lời quở trách này, vẻ giễu cợt và bi thống trong mắt càng nặng nề hơn, hắn ta nhìn Phàn Trường Ngọc chòng chọc, nói: “Ta thà rằng lúc đó người chết ngoài thành là chính mình! Chứ không muốn bị người ta đánh ngất đi, để rồi khi tỉnh lại ai ai cũng bảo ta chiến sự đã kết thúc, ngay cả cơ hội báo thù cho lão sư cũng không còn! Sống sờ sờ như một trò cười!”

Khi Phàn Trường Ngọc đánh ngất hắn ta là vì sợ hắn ta quá đau buồn mà bị kích động, xông ra ngoài thành nộp mạng vô ích.

Nàng lạnh lùng nói: “Môn sinh đắc ý do Hạ đại nhân dạy dỗ ra, nếu vì hành động theo cảm tính mà chết oan uổng trên chiến trường, đó mới là một trò cười!”

Nàng ra ngoài thành là dùng kế trì hoãn thời gian, đợi viện quân tới. Còn Trịnh Văn Thường mà ra ngoài thành, thì chỉ biết bất chấp tất cả mà giết vào trận địch, tìm Tùy Nguyên Hoài báo thù.

Một mình hắn ta, dù võ nghệ có cao cường đến đâu, làm sao địch lại hai vạn đại quân?

Một đợt loạn tên bắn xuống, e là sẽ bị bắn thành con nhím ngay lập tức.

Trịnh Văn Thường bị lời của Phàn Trường Ngọc kích động đến mức cơ hàm siết chặt, hắn ta trừng mắt nhìn Phàn Trường Ngọc, đột ngột tiến lên một bước, A Hồi sợ hãi tái mặt, sợ hắn ta sẽ động thủ với Phàn Trường Ngọc, vội vàng hét lớn: “Ngươi muốn làm gì!”

Trịnh Văn Thường đấm mạnh một phát vào bức tường bên cạnh Phàn Trường Ngọc, lạnh lùng để lại một câu: “Đợi vết thương của ngươi lành, chúng ta so tài một chút.”

Nói xong liền đầu cũng không ngoảnh lại mà bỏ đi.

Nhưng vì tiếng hét đó của A Hồi, cộng thêm hôm nay người đến viếng Hạ Kính Nguyên rất đông, nên đã thu hút không ít người nhìn về phía này.

Mọi người bàn tán xôn xao: “Đó chẳng phải Trịnh tướng quân và Phàn đô úy sao? Có chuyện gì vậy?”

Có người lắp bắp nói nhỏ: “Hình… hình như là Trịnh tướng quân ép Phàn đô úy vào góc tường…”

Chủ yếu là cú đấm của Trịnh Văn Thường vào cạnh người Phàn Trường Ngọc, do góc nhìn nên từ xa trông giống như đang ép sát đối phương vào tường vậy.

Người đó vừa nói xong, liền có người phụ họa: “Trịnh tướng quân lẽ nào đã thích Phàn đô úy?”

Lời này chẳng khác nào một hòn đá khơi dậy ngàn lớp sóng, chủ yếu là trai chưa vợ, gái chưa chồng, hai người lại cùng làm việc, trên chiến trường cũng coi như bạn sinh tử, nghĩ kỹ lại thì thấy chuyện này hình như cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Phàn Trường Ngọc lúc rời đi không nghe thấy người bên cạnh bàn tán những chuyện này, chuyện của Trịnh Văn Thường, nàng cũng không để bụng.

Đến khi nàng đi tìm Đường Bồi Nghĩa lấy lệnh bài để thăm mẫu tử Du Thiển Thiển đang bị giam giữ, nàng mới biết lời đồn đã truyền đi có bao nhiêu thái quá.

Khởi đầu của sự việc là sau khi nàng bái tế Hạ Kính Nguyên xong, dò hỏi từ các võ tướng khác về nơi giam giữ gia quyến quân phản tặc, nghĩ hiện tại tuy không có cách nào cứu mẫu tử Du Thiển Thiển ra, nhưng mang cho họ chút đồ ăn thức uống, rồi dặn dò ngục tốt vài câu, để bọn họ ở trong đại lao không bị bắt nạt cũng tốt.

Đến cửa đại lao, nàng lại được thủ vệ báo cho biết, phải có lệnh bài của Tạ Chinh hoặc Đường Bồi Nghĩa mới được vào.

Phàn Trường Ngọc tự nhiên sẽ không đi tìm Tạ Chinh để mở lời.

Vất vả lắm mới nói dối một câu để lấy được lệnh bài từ tay Đường Bồi Nghĩa, trước khi đi, Đường Bồi Nghĩa lại cười khà khà nói một câu: “Nghe nói Phàn đô úy và Trịnh tướng quân sắp có chuyện tốt rồi?”

Phàn Trường Ngọc ngơ ngác: “Tướng quân cớ sao lại nói lời này?”

Đường Bồi Nghĩa tưởng nàng là phận nữ nhi, da mặt mỏng, cười nói: “Phàn đô úy không cần giấu ta đâu, chuyện của ngươi và Trịnh tướng quân đã truyền khắp quân doanh, khó trách trước khi Hạ đại nhân đi, còn đặc biệt điều Trịnh tướng quân đến Sùng Châu giúp ngươi.”

Phàn Trường Ngọc càng mờ mịt hơn: “Ngài nói chuyện Trịnh tướng quân tuyên bố đợi thương thế của ta khá hơn sẽ so tài võ nghệ à? Chuyện đó thì có liên quan gì đến việc Hạ đại nhân điều hắn đến Sùng Châu?”

Đường Bồi Nghĩa trừng mắt: “Đến nước này rồi mà ngươi còn giả ngốc với ta sao?”

Phàn Trường Ngọc không phải giả ngốc, nàng thật sự là như không lần được ý nghĩ của Trượng Nhị Hòa Thượng.

Có lẽ thấy nàng thật sự không biết gì, Đường Bồi Nghĩa cũng nghi hoặc theo, nói: “Nghe nói ngươi và Trịnh tướng quân có tình ý với nhau, hôm qua hắn định ra thành báo thù cho Hạ đại nhân, ngươi sợ hắn có chuyện nên đã đánh ngất hắn rồi thay hắn ra thành.”

Phàn Trường Ngọc cảm thấy như bị sét đánh ngang tai.

Nàng cuối cùng cũng đã nếm trải cái gì gọi là miệng lưỡi của đám đông có thể làm chảy cả vàng.

Nàng thuật lại tình hình lúc đó cho Đường Bồi Nghĩa nghe một lượt, vẻ mặt bất đắc dĩ nói: “Ta là sợ Trịnh tướng quân mất mạng vô ích, Hà phó tướng cũng có mặt ở đó, ngài không tin có thể hỏi Hà phó tướng.”

Đường Bồi Nghĩa không ngờ lại là một sự hiểu lầm lớn như vậy, ông ta kinh ngạc hỏi: “Vậy hôm nay Trịnh tướng quân tìm ngươi là vì chuyện gì?”

Lời đồn ông ta nghe được là, Trịnh Văn Thường biết nàng thay hắn ta ra thành nghênh chiến nên bị trọng thương, vừa xót xa vừa tức giận, giữa ban ngày ban mặt trực tiếp ép người vào góc tường để “hỏi tội”.

Mí mắt Phàn Trường Ngọc giật liên hồi, nói: “Hắn oán trách ta lúc đó đánh ngất hắn, suýt chút nữa đã động thủ với ta, thấy ta đang bị thương nên mới bảo để hôm khác so tài.”

Đường Bồi Nghĩa đập bàn một cái, trầm giọng quát: “Thật không ra thể thống gì! Lát nữa ta sẽ răn dạy hắn!”

 

Phàn Trường Ngọc cảm thấy hành động này chẳng khác nào biến tướng mách lẻo, nếu Đường Bồi Nghĩa thật sự tìm Trịnh Văn Thường để dạy dỗ, sau này gặp lại chỉ e càng thêm khó xử, bèn nói: “Đa tạ ý tốt của tướng quân, nhưng chuyện này, vẫn nên để ta và Trịnh tướng quân tự giải quyết riêng thì thỏa đáng hơn. Dù sao… cái chết của Hạ đại nhân, đối với Trịnh tướng quân mà nói, quả thực là một nỗi đau khó vượt qua.”

Hạ Kính Nguyên đối với Đường Bồi Nghĩa cũng có ơn nặng như núi, việc ông ta không kịp dẫn đại quân đến tiếp ứng, trong lòng thực ra cũng có phần hổ thẹn, nên có thể hiểu được tâm trạng của Trịnh Văn Thường, thở dài một tiếng nói: “Cũng được, chuyện này cứ để hai ngươi tự giải quyết đi.”

Rời khỏi chỗ Đường Bồi Nghĩa, Phàn Trường Ngọc phiền muội thở dài.

A Hồi cúi đầu tự trách: “Đều tại ta la hét làm hại Đô úy bị người ta dị nghị.”

Phàn Trường Ngọc xoa đầu A Hồi, nói: “Không trách ngươi.”

A Hồi cũng là sợ Trịnh Văn Thường sẽ động thủ với nàng, trong lúc cấp bách mới lớn tiếng ngăn cản, ai mà ngờ được một chuyện nhỏ như vậy lại bị kẻ rỗi hơi thêu dệt thành ra thế này?

Đến đại lao, Phàn Trường Ngọc đưa lệnh bài cho thru vệ xem, thủ vệ nói chỉ mình nàng được vào, Phàn Trường Ngọc liền để A Hồi đợi bên ngoài, tự mình mang theo túi lớn túi nhỏ vào thăm Du Thiển Thiển.

Ngục tốt dẫn nàng đến căn buồng giam trong cùng, cung kính nói: “Chính là chỗ này, nhưng cấp trên có quy định, tiểu nhân cũng khó làm việc, Đô úy chỉ có thể ở đây trong vòng một nén nhang thôi.”

Phàn Trường Ngọc thấy nữ tử trong lao mặc đồ tù, đang ôm con trốn trong góc tối nhất, không nhìn rõ mặt, nhưng đầu tóc rối bù, dường như đã chịu không ít khổ cực.

Lòng nàng thắt lại, cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị nói với ngục tốt: “Ta biết rồi, ngươi lui xuống trước đi.”

Sau khi ngục tốt lui xuống, nàng mới nói với nữ tử trong lao: “Thiển Thiển, ta đến thăm tỷ đây. Hiện tại ta vẫn chưa nghĩ ra cách cứu mẫu tử tỷ ra ngoài, nên mang cho tỷ và Bảo Nhi ít đồ trước. Đây là kẹo hạt thông mà Bảo Nhi thích nhất…”

Nữ nhân bên trong nghe thấy âm thanh của nàng thì càng thêm hoảng hốt, thu người lại, ôm chặt đứa trẻ, vùi đầu vào đầu gối, không lên tiếng.

Phàn Trường Ngọc thấy vậy cảm thấy kỳ quái, tiếp tục gọi: “Thiển Thiển?”

Nữ nhân vẫn không phản ứng, trái lại đứa trẻ được nữ nhân ôm nghe Phàn Trường Ngọc nói có kẹo hạt thông, liền lén lút ngẩng đầu lên, rụt rè nhìn nàng.

Nhìn rõ mặt đứa trẻ, ánh mắt Phàn Trường Ngọc biến đổi.

Không phải Du Bảo Nhi!

Nữ nhân phát hiện đứa trẻ ngẩng đầu lên, kinh hoàng ngẩng mặt, vội vàng ấn đầu đứa trẻ vào lòng mình, dường như không muốn để Phàn Trường Ngọc phát hiện họ là kẻ giả mạo.

Nhưng trong khoảnh khắc nàng ta ngẩng đầu, Phàn Trường Ngọc đã nhìn rõ dung mạo dưới mái tóc rối bời, đó là một nữ nhân lạ mặt.

Trong nhất thời Phàn Trường Ngọc cũng không biết mình nên thở phào nhẹ nhõm, hay là trái tim lại thắt chặt thêm lần nữa.

Mẫu tử được đưa về không phải mẫu tử Du Thiển Thiển, vậy kẻ bị tiêu diệt chắc hẳn cũng không phải Tùy Nguyên Hoài!

Nàng nhìn nữ nhân đang ôm gối cúi đầu, co rúm trong góc một lát, vẫn đưa hết đồ ăn và chăn đệm mang theo vào trong, sau đó không nói một lời mà rời khỏi đại lao.

Ngày hôm qua sau khi Tạ Chinh bị thân binh gọi đi, chắc hẳn đã gặp đôi mẫu tử này, hắn là không biết họ giả mạo, hay đã biết rồi nhưng vẫn mặc định họ chính là mẫu tử Du Thiển Thiển?

Nếu là vế trước, vậy người biết dư nghiệt phản tặc vẫn còn sống sót, cũng chỉ có một mình nàng.

Nếu là vế sau, Tạ Chinh mặc định phản tặc đã bị tiêu diệt hết, mục đích là gì?

Ra khỏi đại lao, Phàn Trường Ngọc suốt đường đi được A Hồi đỡ, mải mê thất thần suy nghĩ những điều này.

Cánh tay không bị thương đột nhiên bị A Hồi bóp chặt, theo sau đó là tiếng lắp bắp của A Hồi vang lên: “Đô… Đô úy.”

“Hả?” Phàn Trường Ngọc thu lại suy nghĩ, nghiêng đầu nhìn A Hồi.

A Hồi lại như một chú gà con bị bóp cổ, dùng ánh mắt ra hiệu cho Phàn Trường Ngọc nhìn về phía trước.

Trong lòng Phàn Trường Ngọc đã có linh cảm không lành, quả nhiên, vừa ngẩng đầu đã thấy một nhóm người cách đó không xa đang đi tới.

Người đi đầu mặc một bộ cẩm bào màu đỏ sẫm thêu hoa văn mây sóng biển, mặt đẹp như ngọc, mắt như sao lạnh.

Không phải Tạ Chinh thì là ai.

Tóc hắn được búi gọn lên hoàn toàn, đường nét ngũ quan càng thêm lạnh lùng sắc sảo, chút khí chất thiếu niên cuối cùng cũng đã bị đè nén xuống, thay vào đó là vẻ đẹp uy nghiêm đến lạ kỳ.

Phía sau hắn là mấy vị quan văn, dường như đang định đến đại lao lấy khẩu cung phạm nhân.

Phàn Trường Ngọc thầm nghĩ sao lại không khéo như vậy chứ, lại gặp hắn ở đây.

Đến tận bây giờ, nàng vẫn không biết khi gặp lại hắn, nên dùng thái độ như thế nào, và gọi hắn là gì cho phải phép.

Cân nhắc ngắn ngủi một lát, nàng vẫn ôm quyền hành lễ theo quân chế: “Gặp qua Hầu gia.”

Chẳng ngờ đối phương ngay cả cái liếc mắt cũng không thèm nhìn sang phía nàng, gương mặt tuấn mỹ như phủ một lớp sương giá, coi như không thấy mà đi thẳng qua người nàng, tiến về phía đại lao.

Phàn Trường Ngọc hơi sững sờ.

A Hồi khẽ gọi: “Đô úy, ngài sao vậy?”

Phàn Trường Ngọc hoàn hồn, nén lại chút đắng chát trào dâng trong lòng, bình thản nói: “Không có gì, đi thôi.”

Bọn họ gặp lại nhau, vốn dĩ nên như thế này mới đúng.