Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 130:
Đại quân tiến qua Chính Dương Môn, tĩnh lặng chờ lệnh tuyên kiến trước Ngọ Môn.
Ba mặt thành đài cao mười trượng nối liền nhau, bên trên sừng sững Nhạn sí lầu hai bên đông tây và Khuyết đình, điện chính mái chồng ngói vàng, bên trong lan can đá cẩm thạch trắng là hàng dài Kim Ngô vệ mặc giáp đeo đao, sâm nghiêm túc mục.
Trước những tòa thành đài và điện vũ cao ngất này, quảng trường phía dưới vốn có thể chứa vạn người bỗng trở nên chật hẹp.
Phàn Trường Ngọc ngồi trên lưng ngựa ngước nhìn điện vũ tựa như cự thú này, trong lòng lại nghĩ: sống ở trên cao lâu rồi, liệu có phải sẽ không còn nhìn thấy nỗi khổ của thương sinh, trái lại coi mạng người như cỏ rác hay không?
Nếu không, tại sao khi nàng đang giết địch nơi tiền tuyến, vị đế vương trên ghế rồng kia chỉ vì lo lắng nàng ảnh hưởng đến việc ban hôn của hắn ta, liền quyết định trừ khử nàng?
Năm kia thiên tai hạn hán, vì để đề bạt Lý gia, chèn ép Ngụy Nghiêm, hắn ta lại hành xử y hệt Tề Mân, liên thủ với Lý gia dung túng cho đám tham quan ô lại dưới trướng Ngụy Nghiêm tầng tầng lớp lớp nuốt chửng lương cứu trợ thiên tai, chết đủ số người rồi mới quay đầu hỏi tội Ngụy Nghiêm.
Bá tánh khổ không thấu nổi, mắng chửi tham quan ô lại, trông chờ “Trời” của họ mở mắt, nào biết “Trời” vẫn luôn dõi theo, chỉ là lạnh lùng bàng quan mà thôi.
Đế vương một lòng lộng quyền, kẻ ngồi cao nơi miếu đường, điều đăm chiêu lo lắng chẳng phải nỗi khổ dân gian, mà là làm sao lật đổ đối thủ, kéo dài sự hưng thịnh của gia tộc.
Phàn Trường Ngọc bỗng cảm thấy lớp ngói vàng lưu ly trên mái cong kia trở nên chói mắt vô cùng, nàng cụp mắt, siết chặt lòng bàn tay.
Vừa vào Ngọ Môn, quan văn không được ngồi kiệu, võ quan cũng không được cưỡi ngựa, trong lúc họ chờ đợi, chiến mã đã có người hầu trong cung đến dắt đi.
Đường Bồi Nghĩa thấy sắc mặt Phàn Trường Ngọc có khác thường, tưởng nàng lần đầu diện thánh nên căng thẳng, ông ta nhìn lại cung thành uy nghiêm, nói: “Người xưa có thơ rằng ‘Thiên thượng Bạch Ngọc Kinh, thập nhị lâu ngũ thành’, Bạch Ngọc Kinh trong thơ chắc cũng chỉ đến thế này thôi. Biết bao nho sinh võ phu cả đời cùng cực cũng không đủ tư cách vào xem một lần, Phàn đô úy tuổi còn trẻ đã có thể diện thánh trên Kim Loan Điện, thật là hậu sinh khả úy. Chúng ta nhận chiếu vào kinh là để luận công ban thưởng, đô úy không cần lo âu, lát nữa vào điện nhận phong thưởng là được.”
Phàn Trường Ngọc không giải thích gì, chỉ ôm quyền nói: “Đa tạ tướng quân nhắc nhở.”
Đường Bồi Nghĩa vỗ vỗ vai nàng, không nói thêm gì nữa.
Đợi khoảng chừng một khắc, tiếng truyền gọi cách mấy đạo cung môn mới xuyên qua lớp lớp tường cung, truyền đến ngoài Ngọ Môn.
“Tuyên, Vân Huy tướng quân Đường Bồi Nghĩa cùng thuộc cấp yết kiến ——”
Giọng thái giám truyền lệnh ngoài Kim Loan Điện thanh mảnh mà kéo dài.
“Tuyên, Vân Huy tướng quân Đường Bồi Nghĩa cùng thuộc cấp yết kiến ——”
Giọng Kim Ngô vệ cầm kiếm đứng dưới bậc đá cẩm thạch trầm hùng thô ráp.
“Tuyên, Vân Huy tướng quân Đường Bồi Nghĩa cùng thuộc cấp yết kiến ——”
Tiếng truyền triệu cuối cùng vang vọng ngoài Nhạn sí lầu, va đập giữa những thành đài cao mười trượng hai bên đông tây tạo thành vô số tiếng vang, hùng hồn uy nghiêm.
Dù là những vị tướng quân vừa mới từ chiến trường Tây Bắc đẫm máu trở về, trong lòng cũng không khỏi chấn động, thực sự hiểu thế nào là “Triều thiên tử”.
Cửa hông phía Đông từ từ mở ra, Đường Bồi Nghĩa dẫn đầu, các võ tướng xếp hàng chỉnh tề phía sau, vào Ngọ Môn, qua cầu Kim Thủy, băng ngang Thái Hòa Môn, mới tới Kim Loan Điện nơi văn võ bá quan thượng triều.
Trong tầm mắt toàn là tường đỏ ngói vàng, gạch lát nền đều là đá cẩm thạch trắng, quả thực xứng với danh xưng “Thiên thượng Bạch Ngọc Kinh”.
Nhiều võ quan đi theo là lần đầu vào kinh diện thánh, bị những điện vũ trang nghiêm này ép tới mức không dám thở mạnh.
Phàn Trường Ngọc đi sau Đường Bồi Nghĩa, sóng vai cùng trưởng tử của Hạ Kính Nguyên, bởi vì trong lòng mang quá nhiều chuyện nặng nề, điện vũ hùng vĩ chạm vàng xây ngọc khắp nơi này trái lại không gợi được mấy sự hứng thú của nàng.
Trên bậc đá cẩm thạch trước Kim Loan Điện cũng đứng đầy Kim Ngô vệ, ai nấy thân hình vạm vỡ, nhưng trong mắt đa phần là vẻ ngang ngược mắt cao hơn đầu, chứ không phải sát khí rèn luyện từ sa trường.
Vào đến đại điện, Phàn Trường Ngọc không cần nhìn quanh cũng cảm nhận được sự huy hoàng lộng lẫy bên trong, văn võ đại thần chia làm hai bên đại điện, nhường ra một lối đi cho họ.
Nhưng vị trí đứng đầu quan văn và võ tướng đều trống không, Tạ Chinh cố ý tấu xin về kinh muộn vài ngày, Ngụy Nghiêm thì cáo bệnh nhiều ngày không thượng triều, Phàn Trường Ngọc đoán đó có lẽ là chỗ của Ngụy Nghiêm và Tạ Chinh.
Đường Bồi Nghĩa dẫn đầu đám võ tướng ôm quyền, quỳ một gối xuống đất: “Ngô hoàng vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế!”
Phàn Trường Ngọc cũng cúi đầu theo, ban đầu nàng định ở trên Kim Loan Điện tự công khai mình là hậu nhân Mạnh gia, ép Hoàng đế điều tra Ngụy Nghiêm, nhưng sau đó xảy ra quá nhiều chuyện, Lý gia và Ngụy Nghiêm dường như đều còn quân bài phía sau, Tạ Chinh lại đang bày mưu tính kế gì đó, bảo nàng tạm thời án binh bất động.
Trên chiếc ghế rồng chạm nổi sơn son thếp vàng khổng lồ phía cao nhất truyền xuống giọng nói vui vẻ của đế vương: “Bình thân ——”
Phàn Trường Ngọc đứng ngay sau Đường Bồi Nghĩa, đứng dậy ngước mắt liền nhìn thấy thiên tử mặc hoàng bào thêu rồng ngồi trên ghế rồng.
Hắn ta trông trẻ hơn nhiều so với hình dung của Phàn Trường Ngọc, đầu đội miện lưu, khi cười cả người toát ra vẻ thân thiện đến bất ngờ, dường như chỉ là một thiếu niên, không giống vị cửu ngũ chí tôn quyền ngự tứ hải.
Tề Thăng đương nhiên cũng nhìn thấy Phàn Trường Ngọc, khi ánh mắt lướt qua nàng, dù vẫn đang cười nhưng lại khiến nàng cảm thấy khó chịu toàn thân, giống hệt như vị thái giám tuyên chỉ thấy ở ngoài Sùng Châu thành năm đó.
Tề Thăng chỉ vào bọn họ, cười nói với văn võ cả triều: “Chư vị ái khanh hãy nhìn xem, đây chính là những thần tử trụ cột của Đại Dận ta!”
Các đại thần hai bên điện đưa mắt nhìn nhau, vang lên tiếng bàn tán cực thấp, nhưng không ai phụ họa lời Hoàng đế, nhóm văn thần còn giữ được vẻ mặt, nhưng không ít võ tướng đã lộ rõ vẻ không phục, chỉ vì đây là Kim Loan Điện nên mới không mạo muội phản bác.
Chủ yếu là vì chiếc mũ cao “thần tử trụ cột” này đội lên đầu họ thực sự không hợp chút nào.
Tam công cửu khanh mới đáng được tán dương như thế, còn lần này đi theo Đường Bồi Nghĩa diện thánh, cấp quan nhỏ nhất chính là Phàn Trường Ngọc, một Kiêu Kỵ đô úy ngũ phẩm.
Mà người có thể lên triều diện thánh, quan ở kinh thành ít nhất cũng phải là ngũ phẩm giữ chức vụ trọng yếu mới có chỗ nghe triều, nhưng không có tư cách gián ngôn; quan địa phương ít nhất phải từ tứ phẩm trở lên mới được diện thánh.
Câu nói kia của Tề Thăng, vô hình trung đã kết thù cho đám võ tướng có công bình định phản loạn ngay trên triều đình.
Ngay cả kẻ mới bước vào quan trường như Phàn Trường Ngọc cũng nhận ra điều bất ổn, Đường Bồi Nghĩa khi nghe thấy lời khen ngợi kia, mồ hôi lạnh trên thái dương đã rơi xuống, vội vàng ôm quyền nói: “Mạt tướng không dám nhận, tận trung vì bệ hạ là bổn phận của thần tử, huống hồ trong trận chiến bình định lần này, người có công lao vĩ đại nhất là Hạ đại nhân và Vũ An hầu.”
Hạ Kính Nguyên cả đời cống hiến đến chết, nay đã qua đời, còn chiến công hiển hách của Tạ Chinh thì văn võ cả triều không ai dám không phục.
Đường Bồi Nghĩa đưa hai người này ra nhận lời khen của Hoàng đế mới gọi là danh xứng với thực.
Nụ cười trên mặt Tề Thăng không giảm, dường như lời tâng bốc giết người vừa rồi không phải cố ý: “Hạ ái khanh và Vũ An hầu đúng là rường cột nước nhà của Đại Dận. Mùa đông phương Bắc sắp tới, Vũ An hầu tấu báo nói muốn về Cẩm Châu tuần sát phòng thủ một chuyến rồi mới về kinh, Đại Dận có Vũ An hầu, trẫm và chư vị ái khanh đều có thể kê cao gối mà ngủ rồi!”
Lời này vừa thốt ra, văn võ bá quan đều phụ họa tán thành.
Tề Thăng lại cười nói: “Đợi Tạ ái khanh vào kinh, trẫm sẽ ban cho hắn Cửu tích.”
Vừa nghe câu này, các đại thần nhìn nhau, không ai dám lên tiếng, cả triều đình rơi vào một mảnh tĩnh mịch.
Phàn Trường Ngọc cúi đầu đứng dưới đại điện, thầm nghĩ chẳng lẽ Cửu tích* là điều kiêng kỵ gì sao, nếu không tại sao bá quan lại kín tiếng như vậy?
*Cửu tích: chín loại lễ khí mà hoàng đế Trung Hoa cổ đại ban tặng cho các chư hầu hoặc đại thần có công lao đặc thù, là biểu thị cho sự đãi ngộ cao quý nhất. Cụ thể: 1. Xe và ngựa; 2. Quần áo; 3. Nhạc khí; 4. Cửa lớn son đỏ; 5. Nạp bệ: bậc thềm chế tác đặc biệt; 6. Hổ bôn: Vệ sĩ hoặc vũ khí; 7. Cung tên gồm một trăm cung tên đỏ và một nghìn cung tên đen; 8. Phủ việt: rìu lớn tượng trưng cho quân quyền; 9. Cự sưởng: Rượu hương dùng trong tế tự.
Cũng may Tề Thăng nhanh chóng tự mình bỏ qua chủ đề này: “Hạ ái khanh tử trận tại Lư Thành, trẫm đau lòng khôn xiết, nhiều ngày ăn ngủ không yên, nay truy phong làm Kính Quốc công, phối hưởng thái miếu, người con là Hạ Tu Quân có ở đây không?”
Hạ Tu Quân đứng cạnh Phàn Trường Ngọc lập tức bước ra, ôm quyền cúi đầu: “Vi thần có mặt.”
Hạ Kính Nguyên sinh thời là một nho tướng, trưởng tử của ông ấy cũng thừa hưởng khí chất nho nhã ấy, tuy có biết chút võ nghệ nhưng thiên về nghiên cứu nho học hơn, những ngày Hạ Kính Nguyên đến Sùng Châu, mọi sự vụ ở Kế Châu đều do Hạ Tu Quân quán xuyến, Trịnh Văn Thường ở lại làm phó thủ.
Tề Thăng nói: “Ngươi xuất thân tiến sĩ nhị bảng, lại theo phụ thân rèn luyện ở Kế Châu nhiều năm, sau này vị trí Kế Châu mục sẽ do ngươi đảm nhiệm.”
Hạ Tu Quân tạ ơn: “Vi thần tạ ơn long ân của bệ hạ, nhất định không phụ kỳ vọng của bệ hạ.”
Tề Thăng bảo hắn ta lui về chỗ cũ, ánh mắt quét sang Đường Bồi Nghĩa, không biết có phải nghe thái giám tuyên chỉ ngày đó về kể lại gì không, vẻ mặt dù vẫn đang cười nhưng luôn khiến người ta cảm thấy một luồng ác ý: “Đường ái khanh trong trận bình định mưu sâu kế xa, dùng người đúng mực, đặc phong Bình Tây đại tướng quân, thưởng ngàn vàng, trăm sấp lụa là.”
Sau khi Đường Bồi Nghĩa bước ra tạ ơn, ánh mắt Tề Thăng rơi lên người Phàn Trường Ngọc.
Hắn ta nói: “Đã sớm nghe danh, Đại Dận ta xuất hiện một vị nữ tướng từ dân gian, bước ra đây cho trẫm xem nào.”
Phàn Trường Ngọc bước ra khởi hàng ôm quyền: “Mạt tướng Phàn Trường Ngọc, tham kiến bệ hạ.”
Tề Thăng bảo: “Ngẩng đầu lên.”
Lời này lại khiến quần thần xôn xao không nhỏ, Phàn Trường Ngọc là võ tướng mang quân công trên mình, lời lẽ ngả ngớn này của Tề Thăng cứ như thể đang tuyển phi trong hậu cung vậy.
Chân mày Phàn Trường Ngọc cũng không tự chủ được mà nhíu lại, nàng kiên nghị ngẩng đầu, trên mặt không chút vẻ thẹn thùng của thiếu nữ, chỉ có khí chất hiên ngang sau khi kinh qua sa trường.
Khóe môi Tề Thăng cong lên, khen ngợi: “Quả là một đóa Kim Qua mẫu đơn!”
Câu này vừa thốt ra, sắc mặt quần thần càng thêm đặc sắc, ngay cả Đường Bồi Nghĩa cũng toát mồ hôi thay cho Phàn Trường Ngọc.
Hoàng đế không khen ngợi công tích của nàng, ngược lại lại khen ngợi dung mạo, nghe thế nào cũng thấy kỳ quái, Phàn Trường Ngọc cũng cảm thấy chỗ nào cũng bất ổn.
Đặc biệt là nàng biết vị đế vương trên ngai kia vốn đã sớm có tâm tư muốn giết mình, lúc này bị ánh mắt nửa cười nửa không của hắn ta nhìn chòng chọc, nàng cảm thấy như có gai nhọn đâm sau lưng.
Quả nhiên khắc sau nghe Tề Thăng hỏi: “Ái khanh đã có hôn phối chưa?”
Phàn Trường Ngọc cảm thấy ghê tởm toàn thân, bàn tay ôm quyền không tự chủ siết chặt, trong lòng dâng lên một luồng nộ khí vì bị sỉ nhục, bị coi thường, nàng mím chặt môi, dõng dạc đáp: “Bẩm bệ hạ, mạt tướng đã có phu tế.”
Năm đó Tạ Chinh ở rể tuy dùng tên giả, nhưng trong hồ sơ quan phủ, nàng thật sự có hôn thư ghi chép rõ ràng, lời này không tính là khi quân.
Tề Thăng dường như khá thất vọng, tiếp tục hỏi: “Phu tế ngươi hiện đang ở đâu?”
Phàn Trường Ngọc không kiêu ngạo không siểm nịnh đáp: “Đầu năm trưng binh, phu tế mạt tướng đã đi Sùng Châu, mạt tướng vì lo lắng cho chồng nên trên đường tìm phu tế đã tình cờ tòng quân. Trận chiến bình định thảm khốc, phu tế mạt tướng đến nay vẫn bặt vô âm tín, đến nay sinh tử không rõ.”
Khi chinh chiến, trong quân không thiếu những binh lính mất tích, có kẻ đào ngũ, có kẻ bị thiên quân vạn mã giẫm thành thịt nát khó lòng nhận diện, cũng có kẻ chết bất đắc kỳ tử nơi hoang dã, muôn vàn lý do.
Trong quân đúng là có danh sách tham quân của “Ngôn Chính”, nhưng giờ đây trong quân không tìm ra người này nữa, Phàn Trường Ngọc nói thế cũng là “lời thật lòng”.
Nàng đã nói đến mức này, chuyện ngàn dặm tìm chồng truyền ra ngoài ai đánh giá cũng là trọng tình trọng nghĩa, phu tế nàng lại là tướng sĩ mất tích trong trận Sùng Châu, nàng coi như là quả phụ của anh liệt, nếu Tề Thăng còn buông lời ngả ngớn, thì rõ ràng là dòm ngó vợ của thần tử, đích xác là phong thái của một hôn quân.
Tề Thăng đã sớm hiểu rõ quan hệ giữa Phàn Trường Ngọc và Tạ Chinh, làm khó trên Kim Loan Điện chẳng qua là muốn trút cơn giận vụ Tạ Chinh xẻo một cái tai của thái giám tuyên chỉ ngày đó, nay bị Phàn Trường Ngọc đáp trả cứng cỏi chặn họng, lại mất đi uy nghiêm trước quần thần, hắn ta suýt nữa thì thẹn quá thành giận.
Hắn ta cố giữ nụ cười gượng gạo trên mặt, nói: “Trẫm tại vị mười bảy năm, lần đầu thấy một cân quắc tương tài, Phàn ái khanh trảm lấy thủ cấp Trường Tín Vương trong trận Sùng Châu, lại lấy sức một mình tử thủ Lư Thành đợi viện binh đến, có thể nói là công lao không thể xóa nhòa, đặc phong ái khanh làm Vân Huy tướng quân, gia phong Nhị phẩm Cáo mệnh phu nhân.”
Vân Huy tướng quân là võ quan tam phẩm có thực quyền, còn Cáo mệnh phu nhân là hư hàm.
Phàn Trường Ngọc có lẽ là người duy nhất của Đại Dận từ trước đến nay tự mình giành lấy cáo mệnh cho mình, còn những người khác như phu nhân Thừa tướng thì cũng là dựa vào phu tế mà được phong.
Phàn Trường Ngọc cúi đầu tạ ơn: “Mạt tướng tạ long ân bệ hạ.”
Luận công xong rồi, tự nhiên phải đến hỏi tội.
Sau khi Phàn Trường Ngọc lui về chỗ cũ, liền nghe Hoàng đế dường như có chút mệt mỏi hỏi: “Chư vị ái khanh còn việc gì khởi tấu?”
Một lão giả râu tóc bạc phơ đứng đầu hàng văn quan luôn cụp mắt bỗng cầm hốt bản bước ra: “Lão thần có việc khởi tấu.”
Tề Thăng hỏi: “Thái phó có việc gì muốn tấu?”
Phàn Trường Ngọc nghe thấy hai chữ Thái phó, liền đoán lão giả đó chính là Lý Thái phó.
Nghĩ đến những việc Lý gia liên thủ với Tề Mân đã làm, nàng ngước mắt quan sát lão giả bước ra phía trước, không nhìn rõ mặt, nhưng thân hình dưới lớp quan bào màu đỏ thêu vân hạc trông cực kỳ gầy guộc, tựa như một gốc thông già khẳng khiu.
Rõ ràng coi mạng sống của bá tánh và tướng sĩ như cỏ rác, vậy mà lại ra vẻ một lòng trung trinh vì thiên hạ bá tánh đến kiệt cùng tâm lực.
Phàn Trường Ngọc chỉ thấy mỉa mai tột độ.
Phía trước truyền đến lời lẽ đanh thép phẫn nộ của Lý Thái phó: “Lư Thành suýt mất, vạn tướng sĩ chết thảm, Hạ Kính Nguyên hy sinh thân mình, đều do Ngụy Nghiêm hắn cấu kết với phản tặc, lão thần khẩn cầu bệ hạ hỏi tội Ngụy Nghiêm, trả lại công đạo cho vạn tướng sĩ chết thảm cùng Kính Quốc công!”
Nói xong liền vén bào quỳ xuống.
Người của Lý đảng thấy thế lũ lượt bước ra, phía quan văn gần như lập tức quỳ xuống một mảnh lớn. Một số quan nhỏ vốn không muốn chọn phe, thấy phía trước đều trống trải, sợ bị bài xích nhắm vào trên triều nên cũng đành cầm hốt bản bước ra quỳ xuống, hô theo: “Xin bệ hạ hỏi tội Ngụy Nghiêm, trả lại công đạo cho vạn tướng sĩ chết thảm cùng Kính Quốc công!”
