Bối Lặc Gia Bánh Bao Của Ta
Chương 4:
Đêm đó, sau khi đợi Huyên Bối lặc ngủ say, ta khoác thêm chiếc áo đi tìm Từ quản gia.
Viện của Từ quản gia ở phía đông phủ, một ngọn đèn leo lét vẫn còn sáng.
Thấy ta đến, ông ta vội đứng dậy hành lễ.
Ta xua tay bảo ông ta ngồi xuống, đi thẳng vào vấn đề: “Chuyện trước kia của Bối lặc gia, ông kể cho ta nghe đi.”
Từ quản gia cân nhắc một hồi mới chậm rãi lên tiếng: “Bối lặc gia hồi nhỏ… không phải như thế này. Lão nô ở trong phủ hầu hạ ba mươi năm, Bối lặc gia là do nô tài chứng kiến trưởng thành. Khi đó lão thái gia còn tại thế, Bối lặc gia theo lão thái gia và lão phu nhân sống ở biên quan mấy năm. Đứa trẻ năm sáu tuổi, cưỡi con ngựa con chạy khắp doanh trại, gặp ai cũng cười hớn hở, miệng mồm ngọt xớt, trên dưới quân doanh ai cũng thích hắn.”
“Sau đó thì sao?” Ta hỏi.
Giọng Từ quản gia thấp xuống: “Sau đó, biên quan xảy ra chiến sự. Lão thái gia dẫn quân xuất chiến, lão phu nhân không yên tâm, đưa Tiểu Bối lặc gia đợi ở hậu phương. Trận chiến đó đánh ba ngày ba đêm, lão thái gia trọng thương, khi được khiêng về đã không xong. Lão phu nhân lao tới khóc, ai khuyên cũng không được. Ngay lúc đó, một toán tàn quân địch lẻn đến gần doanh trại, một mũi tên lạc…”
Ông ta dừng lại, môi run rẩy, trong mắt ánh lên tia lệ: “Bối lặc gia khi đó đứng ngay cạnh lão phu nhân. Mũi tên đó bay qua đỉnh đầu hắn, chỉ một chút nữa là… Hắn mới sáu tuổi, trơ mắt nhìn lão phu nhân ngã xuống trước mặt mình. Lúc binh lính thân cận đào hắn ra khỏi đống xác chết, trên người hắn đầy máu, không hề bị thương chỗ nào, nhưng từ đó không nói lời nào nữa. Thái phi nương nương mời bao nhiêu danh y cũng không chữa khỏi, nói là tâm bệnh. Bối lặc gia tự mình không chịu nói, ai cũng chẳng có cách nào. Những năm này, thỉnh thoảng mới nói được vài từ, nhưng không thành câu. Cũng chỉ nói với người thân cận nhất. Thái y nói, tốt nhất cũng chỉ có thể đến mức này thôi.”
Từ quản gia ngắt quãng kể lại.
Trái tim ta cũng từng hồi bị bóp nghẹt, đau đến không thở nổi.
Nước mắt ta rơi xuống lộp độp.
Ta khóc như hoa lê dính mưa đá.
Khóc một hồi, ta dường như hiểu ra điều gì, ướm hỏi: “Vậy việc hắn ăn…?”
Từ quản gia gật đầu:
“Chính là bắt đầu từ lúc đó. Sau khi lão thái gia mất, Bối lặc gia được đón về kinh.”
“Mới về kinh, Bối lặc gia đối với cái gì cũng không quen, cái gì cũng không chịu ăn. Sau đó, vẫn là Thái phi nương nương nghĩ ra một cách, tìm một lão trù nương từ bên mẫu gia của lão phu nhân.”
“Tay nghề của vị trù nương đó giống hệt như lão phu nhân. Bối lặc gia nhìn thấy những món ăn quen thuộc mới bắt đầu ăn. Hắn vừa ăn vừa rơi lệ. Ai cũng không nỡ khuyên, chỉ có thể nhìn hắn vừa khóc vừa ăn sạch cả bàn thức ăn.”
“Sau này thì dần dần không khóc nữa, nhưng cái miệng thì không dừng lại được.”
Ta nghe xong, im lặng hồi lâu.
Một đứa trẻ sáu tuổi, nhìn a mã ngạch nương chết trước mắt mình, từ đó không nói chuyện, không ra ngoài, từng miếng từng miếng tự ăn mình thành một kẻ béo phì.
Không phải vì hắn ham ăn, mà vì hắn bị nỗi bi thương và cô đơn đè suy sụp.
Hắn chỉ có thể dùng thức ăn lấp đầy miệng mình, mới không để những thứ đáng sợ kia từ trong lòng trào ra.
Lớp mỡ này đến lớp mỡ khác là để bao bọc lấy sự yếu ớt của hắn.
Nhưng hắn cũng bị nhốt trong lớp mỡ dày cộp ấy không ra được nữa.
Ta nằm bên cạnh hắn.
Thấy ánh trăng soi lên gương mặt tròn trịa của hắn, đôi lông mày trong giấc mộng còn hơi nhíu lại, ta không nhịn được muốn vuốt phẳng cho hắn.
“Bối lặc gia, ngài có muốn bước ra ngoài không?”
Khoảnh khắc tay ta chạm vào tâm mày hắn, đám mây đen giữa mày hắn dường như bị gió thổi tan.
Đôi lông mày dãn ra của hắn dường như đã cho ta câu trả lời trong cõi u minh.
Ta nhìn ánh trăng ngoài cửa sổ, trong lòng đã có kế hoạch.
Sáng hôm sau, ta dậy sớm hơn bình thường.
Nhân lúc trời còn tối, ta lẻn ra chuồng ngựa vốc một nắm cám mạch, lại chạy vào bếp của hạ nhân múc một muỗng gạo lứt.
Hôm nay ta dự định làm một bữa sáng đặc biệt.
Không phải những món cá thịt nhiều dầu mỡ như trước, cũng không phải bánh trái ngọt lịm.
Mà là món “Canh sợi vàng giảm béo” mà ngay cả Thái hậu nương nương ăn xong cũng cảm thấy nhẹ nhàng thanh thoát.
Ta đem gạo lứt và cám mạch vo thật sạch, trộn thêm vài hạt hồng táo, lại thêm mấy miếng bí ngô già vàng ươm, dùng lửa nhỏ ninh từ từ.
Rất nhanh mùi thơm của mạch lan tỏa, hòa cùng vị ngọt của bí ngô, cả gian bếp bừng lên hơi ấm.
Ta lại ra vườn nhổ một củ cải mọng nước, thái thành sợi nhỏ, rưới lên vài giọt dầu mè, trộn lên giòn sần sật.
Lúc này canh cũng đã chín, thơm nồng ngon miệng, đánh thức cả con sâu ham ăn trên giường dậy.
Ta bưng hộp thức ăn đi trở về viện, hắn đã đứng đợi ở cửa viện.
“Bối lặc gia, bữa sáng xong rồi.”
Hắn nhận lấy hộp thức ăn, mở ra xem, ngẩn người.
Đôi mắt to long lanh trợn tròn, như thể đang hỏi —— Phủ Bối lặc đã nghèo đến mức này rồi sao?
Ta không màng đến hắn, đẩy bát canh vào tay hắn: “Nếm thử đi. Canh này chính là món Thái hậu nương nương thích nhất đấy.”
Nghe đến Thái hậu, hắn mới nhận lấy bát.
Đó là một bậc thầy sành ăn, năng lực thẩm định ẩm thực còn trên cả hắn.
Nếu không vị ấy cũng không vừa ngồi vững ghế Thái hậu đã ăn đến mức thân hình phì nhiêu, đi đứng khó khăn.
Hắn múc một muỗng đưa vào miệng, nếm thử một cách dè dặt.
Rất nhanh lại múc muỗng thứ hai, thứ ba…
Ta cười, đẩy đĩa củ cải muối qua: “Nếm thử cái này nữa.”
Hắn gắp một đũa, nhai giòn rôm rốp.
Một ngụm canh kèm một miếng rau, ăn đến là vui vẻ.
