Quy An

Chương 3:



Lượt xem: 290 | Cập nhật: 11/07/2026 23:18

Tin tức chiến sự biên ải căng thẳng truyền đến ngày càng dày đặc.

Một đêm khuya, ta bị tiếng vó ngựa làm tỉnh giấc.

Lén đẩy khe cửa sổ, thấy lão Hầu gia đích thân đến chuồng ngựa, dưới ánh trăng nói chuyện cùng Trương Tần Thương.

“Triều đình cần ngươi.” Giọng lão Hầu gia già nua nặng nề.

Trương Tần Thương im lặng hồi lâu, cuối cùng quỳ một chân xuống: “Mạt tướng lĩnh mệnh.”

Ngày hôm sau, hắn như không có chuyện gì xảy ra tiếp tục cắt cỏ.

Chỉ là đêm đêm khi dạy ta nhận mặt chữ, dạy thêm mấy chữ nữa.

Trung, Nghĩa, Gia, Quốc.

Khi viết đến chữ Gia, hắn cố ý nhìn ta một cái.

Tim ta cũng đập nhanh hơn chút ít.

Ngày thánh chỉ đến, cả phủ bàng hoàng.

Trương Tần Thương quỳ tiếp thánh chỉ, sống lưng thẳng tắp.

“Sắc phong Phiêu kỵ Trương tướng quân Tần Thương ngày hôm nay khởi hành, chi viện biên ải phía Bắc…”

Đám hạ nhân trợn mắt há hốc mồm.

Chiếc khăn của Xuân Đào rơi xuống đất.

Sau khi đứng dậy, người đầu tiên hắn nhìn chính là ta.

Trước lúc lên đường, hắn đến tìm ta.

“Cái này cho nàng.” Hắn đưa tới một miếng ngọc bội hình hổ, “Là mẫu thân ta để lại.”

Ta nhận lấy ngọc bội, từ trong ngực lấy ra một lá bùa hộ mệnh: “Ta đến chùa xin đó.”

Hắn cười, đuôi mắt đã xuất hiện những nếp nhăn: “Đợi ta về, dạy nàng viết chữ Khải Hoàn.”

Ta gật gật đầu, nước mắt rưng rưng.

Ngày thứ hai sau khi hắn đi, Thế tử đột nhiên tìm ta.

“Không ngờ ánh mắt chọn người của ngươi chuẩn xác thật.” Thế tử nghịch nghịch chén trà, “Sớm biết vậy nên nạp ngươi vào phòng trước.”

Ta cúi đầu: “Nô tì ngu dốt.”

Thế tử cười khẽ: “Nếu hắn chết nơi sa trường, ngươi có bằng lòng đến viện của ta không?”

Ta ngẩng đầu nhìn y, từng chữ một: “Tướng quân nhất định sẽ khải hoàn.”

Khoảnh khắc đó, ta quên mất tôn ti, trong mắt chỉ có sự kiên định.

Ngày thứ năm sau khi Trương Tần Thương đi, người từ viện Thế tử truyền lời, nói thư phòng thiếu người mài mực.

Ta biết đây là Thế tử vẫn chưa cam tâm.

Đến thư phòng, Thế tử không có ở đó, chỉ có một bức tranh chưa hoàn thành trên bàn.

Vẽ một nha hoàn có đôi mắt giống ta vài phần, nhưng lại mặc quần áo của tiểu thư.

Ta lặng lẽ mài mực, không chút động tĩnh châm thêm nước vào nghiên, màu mực cứ thế loãng ra.

Thế tử trở về thấy thế, nhíu mày, rốt cuộc không nói gì.

Xuân Đào được cất nhắc lên làm nha hoàn hạng nhất trong viện Thế tử.

Nàng ta mặc chiếc váy lụa hồ mới tinh xoay vòng trước mặt ta: “Tiểu Phiến, ngày đó nếu ngươi đi, chiếc váy này đã là của ngươi rồi.”

Ta cúi đầu vá chiếc áo cũ Trương Tần Thương để lại, không ngẩng đầu lên: “Tay ta vụng, hầu hạ quý nhân không nổi.”

Buổi chiều, biên ải truyền tin thắng trận, Trương tướng quân tập kích doanh địch, đại thắng.

Trong phủ ai cũng bàn tán, nói Trương tướng quân dụng binh như thần.

Chỉ có ta chú ý, tin thắng trận nhắc đến hắn trúng tên ở vai trái.

Đêm đến, ta hướng về phía chiếc áo cũ đó, ở vị trí vai trái, lẳng lặng thêu một đóa mây nhỏ.

Nguyện hắn bình an.

Sự kiên nhẫn của Thế tử dường như đã cạn.

Y trực tiếp chặn đường ta về phòng, mùi rượu nồng nặc: “Một tên phu xe cũng đáng cho nàng chờ đợi thế sao?”

Ta lùi một bước, nắm chặt cây kéo trong tay áo: “Huynh ấy là tướng quân.”

“Tướng quân?” Thế tử cười lạnh, “Liệu hắn có sống sót trở về hay không còn chưa biết được…”

Lời chưa dứt, tiếng quát giận dữ của lão Hầu gia từ phía sau truyền đến: “Nghịch tử!”

Sau đó, ta bị điều đến hầu hạ trong viện lão phu nhân.

Lão phu nhân sùng Phật, thường bắt ta niệm kinh.

Chuyện ta biết chữ cứ thế truyền ra.

“Cũng thật hiếm có.” Lão phu nhân vê hạt chuỗi, “Đã biết chữ, sau này giúp ta chép kinh đi.”

Ta biết, đây là lão phu nhân đang che chở cho ta.

Việc chép kinh không những nhàn hạ, tiền công cũng nhiều hơn.

Ta dùng số tiền tích góp được, nhờ ma ma mua sắm mua cho cuốn Thiên Tự Văn.

Khi đêm xuống yên tĩnh, dưới ánh đèn dầu ta từng chữ từng chữ nhận mặt chữ.

Thoáng chốc lại cảm thấy như hắn vẫn ở phía sau, bất cứ lúc nào cũng sẽ nắm tay ta để sửa từng nét chữ.

Chiến sự biên ải giằng co, tin thắng trận và danh sách thương vong thay nhau truyền đến.

Mỗi lần có ngựa trạm dịch vào phủ, tim ta lại thắt lại.

Có lần trong danh sách có một người họ Trương, mắt ta liền tối sầm lại.

Sau này mới biết là trùng họ.

Thế tử sắp thành hôn, cưới thiên kim nhà Binh Bộ Thượng thư.

Cả phủ trên dưới bận rộn như kiến bò chảo nóng.

Trong của hồi môn của tân nương, có một bộ nhuyễn giáp tơ vàng, nghe nói đao thương bất nhập.

Ta nhìn chằm chằm bộ nhuyễn giáp đó rất lâu.

Nếu trên sa trường hắn cũng có một bộ như thế này thì tốt biết bao.

Ngày đại hôn, cả phủ treo đèn kết hoa.

Ta trốn trong Phật đường chép kinh, nghe thấy ngoài cửa sổ có người khẽ gọi ta.

Là phó tướng của Trương Tần Thương, bụi bặm phủ đầy, “Tướng quân sai ta đưa cái này cho cô nương.”

Đó là một gói vải nhuốm máu, bên trong đựng mấy viên đá quý lạ, còn có một bức thư ngắn.

Trên thư chỉ có bốn chữ: Bình an, chớ lo.

Chữ viết nguệch ngoạc, rõ ràng là viết trong lúc vội vàng.

Ta chôn đá quý dưới gốc cây quế nơi góc sân, giống như chôn một bí mật chỉ mình ta biết.

Lão phu nhân thấy ta dạo này chép kinh đặc biệt tận tâm, thưởng cho ta đôi vòng tay bạc.

Ta tạ ơn, quay đầu là đi cầm vòng, tiền đổi được đều nhờ phó tướng mang đến biên ải.

Ta biết, hắn đang cần.

Khi phó tướng trở lại đã là hơn nửa năm sau.

Thư của Trương Tần Thương dày hơn lần trước, ngoài báo bình an, còn có thêm vài câu kiến văn về biên ải.

Hắn nói nơi đó đã đổ trận tuyết đầu mùa, nói các tướng sĩ dùng nước tuyết nấu trà, hương trà trong trẻo.

Cuối thư, hắn viết: Thấy chữ như thấy người, mong ngày tương phùng.

Ta ép bức thư vào lồng ngực.

Cảm giác vết mực ấy dường như còn mang theo hơi ấm của hắn.