Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 108:
Đợi đến khi Phàn Trường Ngọc quay về, chuyện nàng được phong làm Kiêu Kỵ đô úy đã lan truyền khắp doanh địa.
Mọi người gặp nàng đều nói một câu: “Chúc mừng Phàn đô úy!”
Phàn Trường Ngọc đối diện với những gương mặt quen hoặc không quen đều chỉ khẽ gật đầu ra hiệu.
Mặc dù đã có chuẩn bị tâm lý nhưng khi ngày này thực sự đến, nàng vẫn thấy rất không quen.
Thăng quan rồi, lều quân của nàng tự nhiên cũng phải chuyển, người đến chúc mừng đông hơn nhiều so với đám Bách hộ lúc trước, đa số đều là những người có quan chức trong hàng Tướng quân, Giáo úy.
Phàn Trường Ngọc không dám chậm trễ, nhưng sự khéo léo trong đối nhân xử thế không phải ngày một ngày hai là học được, nàng thực sự không thể nào xoay xở thuần thục, may mà trận chiến này vẫn chưa đánh xong, trong quân riêng tư cũng không nên tiệc tùng nên mới không cần bày tiệc rượu đãi những người này.
Đối mặt trước những lời chúc tụng, nàng học theo dáng vẻ của các võ tướng sau khi thăng quan mà nàng từng nghe từ các tiên sinh kể chuyện xưa, chắp tay nói “cùng vui” với từng người đến chúc mừng.
Lúc này nàng mới biết, trong quân doanh cũng chẳng thiếu hạng nịnh hót.
Mấy võ quan lạ mặt suýt chút nữa đã tâng bốc nàng thành tướng tinh tái thế.
“Hồi ở Kế Châu đắp đập, ta đã nghe danh Phàn đô úy rồi, khi còn là dân thường đã có lòng với thiên hạ, trong đêm mưa giết chết ba tên trinh sát, nhờ thế mới thực hiện được đại kế dẫn phản tặc vào lũng sông, dùng nước nhấn chìm chúng!”
“Trận đánh chém chết Thạch Hổ ở Nhất Tuyến Hiệp cũng thực sự đặc sắc, cầm hai con đao mổ lợn mà dám lấy đầu Thạch Hổ! Lần này lại càng lập kỳ công, cứu Hạ đại nhân, chém chết Trường Tín Vương!”
Mọi người trầm trồ không ngớt, khen ngợi: “Anh hùng không luận xuất thân, lời xưa quả không sai!”
Phàn Trường Ngọc chỉ khiêm tốn nói: “Chư vị quá khen rồi, ta giết được Trường Tín Vương chẳng qua chỉ là may mắn thôi.”
Lập tức có một võ quan ngắt lời nàng: “Phàn đô úy chớ nên khiêm tốn, dù là may mắn thì cũng chẳng phải ai cũng có được vận may đó!”
Trong khi mọi người phụ họa, một võ quan có để mấy chòm râu nhỏ ở khóe miệng và cằm thay nàng cảm thấy tiếc rẻ: “Theo lý mà nói, chém Trường Tín Vương phải là công đầu, sau khi quân tiên phong bị đánh tan, người dẫn quân cánh phải xông vào giữa trận của phản tặc cũng là Đô úy, sao triều đình lại chỉ phong Đô úy một chức quan ngũ phẩm, tiền thưởng cũng chỉ có ba trăm lượng?”
Phàn Trường Ngọc hơi sững sờ, thầm nghĩ hóa ra Kiêu Kỵ đô úy là chức quan ngũ phẩm.
Nhớ tới lúc trước khi Tạ Chinh đóng giả Tạ Ngũ đã nói với mình, giết chết Trường Tín Vương, tiền thưởng đáng lẽ phải là nghìn lượng.
Nhưng thực tế cấp cho nàng chỉ có ba trăm lượng.
Hạng tiền thưởng đã ghi rõ trong thánh chỉ thế này thì chẳng quan viên nào dám ăn chặn, vậy chỉ có thể là Hoàng đế khi quyết định phong thưởng cho nàng đã chỉ cho bấy nhiêu.
Nhất thời Phàn Trường Ngọc cũng không nghĩ thông được nguyên do trong đó.
Nhưng lời của người này, rất có ý nói là Đường Bồi Nghĩa đã tham ô quân công của nàng.
Có bao nhiêu người ở đây, không ít người thậm chí còn là mặt lạ, lời của người kia truyền ra ngoài không thể nghi ngờ gì sẽ khiến nàng mang tiếng.
Lời nhắc nhở của Hạ Kính Nguyên vẫn còn văng vẳng bên tai, Phàn Trường Ngọc cảnh giác, lập tức nói: “Chiến thuật và cách bày binh bố trận đánh Sùng Châu đều là tâm huyết của Hạ đại nhân và Đường tướng quân, các vị ấy mới là người có công lớn nhất, ta một Suất đội nhỏ bé, một bước thăng năm cấp vốn dĩ đã là hoàng ân mênh mông rồi. Huống hồ ta ở trong quân thâm niên còn nông, giữ chức Đô úy này trong lòng cũng thấy hoang mang, sau này còn phải nhờ chư vị giúp đỡ nhiều.”
Trong quân doanh, võ quan không phẩm hàm quản lý năm mươi người, nói một cách chính xác thì nên gọi là Suất đội, tuy nhiên vì Suất đội có phân chia chính phó, nên những người cấp dưới thường có thói quen gọi chính Suất đội là Đội chính, còn phó suất đội là Đội phó.
Phàn Trường Ngọc nói năng kín kẽ, các võ quan khác khi người kia nói ra câu đầy ẩn ý nấy, trong lòng cũng đã thầm đổ mồ hôi lạnh một phen.
Họ chỉ là sau này phải làm việc dưới quyền Phàn Trường Ngọc, nên mới đi theo đến chúc mừng.
Nếu lời đó truyền đến tai Đường Bồi Nghĩa, làm Đường Bồi Nghĩa không hài lòng với Phàn Trường Ngọc, cấp trên trực tiếp còn không được chủ tướng trọng dụng thì đám người dưới trướng như họ còn mong đợi gì được nữa?
Thế nên khi nghe những lời khiêm tốn và đề cao hai vị Hạ, Đường của Phàn Trường Ngọc, một phòng người đều thở phào nhẹ nhõm, vội vàng phụ họa: “Đô úy nói phải, hai vị tướng quân công cao vời vợi, nhưng Đô úy ở vị trí này cũng là đức xứng với vị!”
Chuyện này coi như xong.
Khi Phàn Trường Ngọc chuẩn bị tiễn khách, ngoài lều lại có một vị khách không mời mà đến.
“Chỗ Đô úy ở đây nhộn nhịp quá.”
Giọng nói ấm áp như gió xuân tháng ba này thực sự rất dễ nhận ra.
Phàn Trường Ngọc quay đầu lại thấy thư đồng vén rèm lều, một người mặc nho bào màu xanh thiên thanh mỉm cười bước vào, chính là Lý Hoài An.
Các võ quan trong trướng bỗng chốc trở nên gò bó, Phàn Trường Ngọc thầm nghĩ lúc này y tới đây không lẽ cũng là để chúc mừng mình thăng quan? Ngoài mặt nàng vẫn làm đủ lễ nghĩa, chắp tay nói: “Lý đại nhân.”
Đôi mày thanh tú của Lý Hoài An khẽ nhướng lên, sắc mày y hơi nhạt, đuôi mày mang theo vài phần độ cong, khiến cả người y trông càng ôn hòa vô hại, vì thế hành động này nếu người khác làm có lẽ sẽ trông ngả ngớn, đặt trên người y vẫn là cảnh đẹp ý vui.
Y mỉm cười yếu ớt nói: “Phàn đô úy đối với Hoài An vẫn khách sáo như vậy sao.”
Y giơ tay nhận một chiếc hộp gấm từ tay thư đồng phía sau, nói: “Biết tin Phàn đô úy được Thánh thượng phong thưởng, Hoài An có chuẩn bị một món quà mọn tặng Đô úy.”
Tạ Ngũ canh giữ ở cửa như thần giữ cửa thấy cảnh này thì trợn tròn mắt, ánh mắt nếu có thể chuyển hóa thành thực thể thì hắn ta đã trực tiếp đốt ra hai cái lỗ trên gáy Lý Hoài An rồi.
Tuy Hầu gia lúc này đã chia tay với Đô úy, nhưng Công Tôn tiên sinh đã phái Tạ Thập Tam đến Sùng Châu dò la tin tức, Hầu gia sau khi quay về trực tiếp lấy phản tặc Khang Thành ra trút giận, rõ ràng là cũng không buông bỏ được Đô úy.
Đô úy lại càng không phải nói, hắn ta đã mấy lần bắt gặp Đô úy một mình nhìn thanh mạch đao bằng sắt đen kia mà thẩn thờ.
Lý Hoài An lúc này đến hiến ân cần cái quái gì?
Nhân lúc cháy nhà mà đi hôi của?
Tạ Ngũ thấp thỏm nhìn chằm chằm Phàn Trường Ngọc, mong nàng ngàn vạn lần đừng nhận món quà đó.
Phàn Trường Ngọc nhíu mày, nói với Lý Hoài An: “Tấm lòng của Lý đại nhân ta xin ghi nhận, nhưng trong quân không được riêng tư tặng quà, món quà này ta tuyệt đối không thể nhận.”
Trước đây các Bách hộ đến thăm nàng là lấy danh nghĩa thăm bệnh, đồ mang theo cũng là chút bánh trái rượu trà không đáng giá, không tính là riêng tư tặng quà.
Các võ quan đến chúc mừng hôm nay cũng chẳng ngu gì trực tiếp tặng quà trong quân, nên mọi người đều đi tay không, vì vậy việc Phàn Trường Ngọc từ chối cũng không khó khăn gì.
Lý Hoài An nghe vậy mỉm cười, nói: “Đô úy hiểu lầm rồi, trong chiếc hộp này chẳng qua chỉ là mấy cuốn binh thư mà Hoài An những lúc rảnh rỗi đã ghi chú thêm vào thôi.”
Vừa nói y vừa mở hộp gấm ra, bên trong thực sự chỉ có mấy cuốn binh thư nửa cũ, không còn vật gì khác.
Ngón tay y kín đáo gõ gõ vào dưới đáy hộp gấm, mặt vẫn không ngớt nụ cười: “Món quà mọn này của Hoài An thực sự là mọn, làm Đô úy chê cười rồi, xin Đô úy đừng ghét bỏ mới phải.”
Y đã nói đến nước này, bên trong lại chỉ có mấy cuốn sách, Phàn Trường Ngọc thực sự khó lòng tìm ra lý do từ chối.
Hơn nữa động tác kín đáo của Lý Hoài An, dường như đang ám chỉ nàng hãy nhận lấy chiếc hộp gấm này trước.
Phàn Trường Ngọc nghĩ ngợi, cảm thấy nếu chỉ đơn thuần tặng quà, y hoàn toàn không cần chọn lúc một đám võ quan đến chúc mừng mình để tới tặng.
Ánh mắt nàng thản nhiên lướt qua mặt gã võ quan có chòm râu nhỏ vừa châm ngòi giữa mình và Đường Bồi Nghĩa lúc nãy, nhớ lại những gì Hạ Kính Nguyên đã nói với mình rằng phe Lý Thái phó lúc này sẽ không hại mình, sau một hồi lưỡng lự, nàng vẫn nhận lấy chiếc hộp gấm Lý Hoài An đưa tới, nói: “Vậy Trường Ngọc xin cung kính không bằng tuân mệnh.”
Vẻ mặt Lý Hoài An dường như thoải mái hơn nhiều, y cười nói: “Hoài An kiến thức về binh pháp nông cạn, chỉ mong những cuốn binh thư có ghi chú này có thể giúp ích được cho Đô úy.”
Phàn Trường Ngọc đành phải khách sáo thêm một câu: “Đại nhân quá khiêm tốn rồi.”
Vất vả lắm mới tiễn hết những người đến chúc mừng đi, Phàn Trường Ngọc rã rời nằm trên ghế, chỉ thấy đầu óc đau nhức từng cơn.
Ai bảo trong quân toàn là những gã thô lỗ cục mịch, những người đi từ chân chạy vặt bò lên đến chức tướng quan này, chẳng có ai là ngu cả.
Võ quan cố tình đào hố cho nàng, ý đồ ly gián nàng và Đường Bồi Nghĩa kia chắc chắn sau này phải đề phòng, có điều loại đinh bày ra ngoài mặt thế này dễ nhổ, chỉ sợ vẫn còn những chiếc đinh ngầm.
Hành động của Lý Hoài An, cũng nói ra sự quái dị không nên lời.
Sau khi mọi người đi hết, Phàn Trường Ngọc xem xét kỹ chiếc hộp đó, không có ngăn bí mật gì cả, trong mấy cuốn binh thư cũng không kẹp mảnh giấy nào, những chữ nhỏ ghi chú trên đó cũng thực sự chỉ là ghi chú mà thôi.
Nàng chẳng có chút manh mối nào, thở dài hỏi Tạ Ngũ: “Tiểu Ngũ, ngươi nói xem Lý Hoài An ám chỉ ta nhận những cuốn binh thư này rốt cuộc là có ý gì?”
Phàn Trường Ngọc hỏi chính sự nên Tạ Ngũ đành nén lại chút định kiến trong lòng, giúp phân tích: “Lúc này binh quyền Kế Châu đổi chủ, các võ quan dưới quyền tuy tin phục Hạ lão tướng quân, nhưng Hạ lão tướng quân không quản việc nữa, họ cũng phải tìm một lối thoát nơi cấp trên mới. Cũng giống như việc các Bách hộ trước đó đến lấy lòng Đô úy, Đô úy chấp nhận sự lấy lòng của họ chính là một cuộc chọn phe và lôi kéo.”
Nói đến đây hắn ta dừng lại một chút, liếc nhìn Phàn Trường Ngọc một cái rồi mới tiếp tục: “Lý Hoài An… đại khái cũng đang lôi kéo Đô úy.”
Phàn Trường Ngọc hiểu ra: “Ta nhận những cuốn binh thư hắn tặng, nghĩa là bây giờ ta đứng cùng một trận tuyến với Lý gia sao?”
Tạ Ngũ gật đầu, lại nói: “Nhưng hắn cố tình tặng quà trước mặt mọi người, rõ ràng là đặc biệt muốn để ai đó biết được.”
Phàn Trường Ngọc ngẫm nghĩ kỹ một lượt, kẻ muốn giết mình chỉ có Ngụy Nghiêm, nhưng bất kể mình có chấp nhận sự che chở của phe Lý Thái phó hay không, Ngụy Nghiêm cũng không thể thu tay.
Vậy thì người có thể khiến Lý Hoài An làm chuyện thừa thãi này, tại trong doanh trại này dường như chỉ có thái giám tuyên chỉ vừa mới đến hôm nay.
Nhưng thái giám tuyên chỉ là người của Hoàng đế.
Chẳng lẽ Hoàng đế có ý đồ bất lợi với mình?
Nhưng tại sao Hoàng đế lại muốn bất lợi với mình? Lúc này Hạ Kính Nguyên vẫn chưa bị xét hỏi, nghĩa là thân thế thực sự của nàng vẫn chưa được công khai trong triều đình, dù Hoàng đế có vì ngoại tổ phụ mà giận lây sang nàng thì còn phong quan cho nàng làm gì?
Mặc dù chức quan này hình như bị ép xuống một chút.
Phàn Trường Ngọc càng ngẫm nghĩ càng không ra manh mối, bực bội vò đầu một cái.
Trước đây còn có Đào Thái phó dạy nàng phân tích thế cục, nay Đào Thái phó bặt vô âm tín, Hạ Kính Nguyên sắp bị điều về Kế Châu, sau này bất kể gặp chuyện gì cũng chỉ có thể tự nàng mày mò quyết định thôi.
Nghĩ đến đây, ánh mắt Phàn Trường Ngọc không nhịn được rơi vào ba trăm lượng vàng đặt trong khay lót lụa đỏ trên bàn.
Những thỏi vàng này mỗi thỏi nặng mười lượng, trong khay tổng cộng có ba mươi thỏi, vàng rực rỡ, trông rất bắt mắt.
Nàng nghĩ ngợi rồi dặn dò Tạ Ngũ: “Ngươi lấy ra mười ba thỏi vàng, cùng với tiền trợ cấp được cấp xuống gửi cho người nhà của mười ba tướng sĩ đã tử trận. Ngoài ra lấy hai thỏi mua ít đồ bồi bổ cho các tướng sĩ bị thương nặng, lại tìm giúp ta mấy vị mưu sĩ có tài học thực sự, bạc thì ngươi cứ liệu mà đưa.”
Tạ Ngũ gật đầu nói: “Đô úy bây giờ cũng là quan bậc chính ngũ phẩm, bên cạnh đúng là nên nuôi mấy mưu sĩ. Có điều… cấp cho tướng sĩ tử trận liệu có nhiều quá không?”
Mười lượng vàng, đổi ra bạc trắng cũng phải được một trăm lượng, cộng thêm năm lượng tiền trợ cấp triều đình cấp chung nữa là một trăm linh năm lượng.
Phàn Trường Ngọc nói: “Đây là lời ta đã hứa với các tướng sĩ.”
Đám Bách hộ do Quách bách hộ dẫn đầu tương lai có thể được nàng dùng, nhưng không thể trở thành thân binh của nàng, những người có thể dùng được và đủ trung thành với nàng bên cạnh vẫn quá ít.
Nàng muốn từ đám tiểu tốt mình dẫn dắt chọn ra hai người làm thân binh.
Tạ Ngũ nghe câu trả lời đó thì ngẩn người, cuối cùng không nói thêm gì nữa.
Lúc hắn ta định ra khỏi cửa, Phàn Trường Ngọc lại gọi hắn ta lại: “Mang những cuốn binh thư này xuống cho đám tướng sĩ xem luôn đi.”
Tạ Ngũ sững sờ.
Phàn Trường Ngọc nói: “Để họ đọc thêm binh pháp, có ích chứ không có hại.”
Xác định Phàn Trường Ngọc bảo mình xử lý những cuốn sách đó, Tạ Ngũ gần như là cuồng hỉ, nụ cười hắn ta suýt nữa toác đến tận mang tai, sợ bị Phàn Trường Ngọc nhận ra điều bất thường nên mới vội vàng kiềm chế lại một chút, ôm lấy hộp gấm nói: “Vâng, ta mang xuống ngay đây!”
Đợi Tạ Ngũ đi rồi, Phàn Trường Ngọc nhìn thanh mạch đao đặt trên giá vũ khí thẩn thờ một lúc, mới lấy những cuốn sách trước đây Tạ Chinh giúp nàng ghi chú ra, chậm rãi lật xem.
Đọc sách có thể làm người ta thông minh hơn, nàng phải đọc nhiều sách vào.
Việc Lý Hoài An tặng nàng những cuốn sách có ghi chú, dù là trùng hợp hay cố ý, nhưng từ việc y tình cờ gặp nàng trên đường núi lúc ban đầu, cho đến sau này giúp nàng tra cứu hồ sơ phụ mẫu bị hại, vừa khéo tra ra thân thế nàng có vấn đề, rồi lại lần theo manh mối tra ra chuyện Hạ Kính Nguyên giúp phụ mẫu nàng làm giả các loại công văn, quả thực là quá mức “trùng hợp”.
–
Hoàng cung.
Giữa lầu quỳnh điện ngọc, một nữ tử mặc cung trang màu đỏ hải đường rảo bước đi qua, mười sáu cung nga để tóc búi đôi cúi đầu đi bước nhỏ nhanh chân theo sau nàng ta.
Lão thái giám canh giữ trước thượng thư phòng từ xa trông thấy nữ tử đó, khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn đã chất lên nụ cười gượng gạo, tiến lên đón nói: “Cơn gió nào thổi Trưởng công chúa điện hạ đến đây thế này…”
Khuôn mặt đẹp tựa phù dung của nữ tử đầy vẻ lạnh lùng, phất tay áo gạt phăng lão thái giám cản đường, cau mày quát: “Cút ngay!”
Lão thái giám “ôi chao” một tiếng ngã lăn ra đất, thấy không ngăn được vị tổ tông này, lại sợ lát nữa bị người bên trong giận lây, chỉ đành ôm lấy một chân nữ tử, gào thét bằng giọng lanh lảnh: “Trưởng công chúa điện hạ, ngài không được vào đâu ạ, bệ hạ mệt rồi, vừa mới chợp mắt…”
Trong lúc nói chuyện, nữ tử đã đẩy cửa thượng thư phòng ra.
Một mùi long diên hương nồng đậm từ trong phòng tỏa ra, khiến gương mặt trang điểm tinh xảo của nàng ta không nhịn được lộ ra vài phần chán ghét.
Lão thái giám đã sợ đến mức quỳ sụp trước cửa: “Bệ hạ bớt giận, lão nô đáng chết, lão nô không ngăn được Trưởng công chúa điện hạ…”
“Thôi được rồi, lui xuống đi.” Bên trong truyền ra một giọng nam tử trẻ tuổi.
Lão thái giám như được đại xá, khom người lui ra ngoài, còn khép cửa thư phòng lại.
Trưởng công chúa không chút sợ hãi nhìn người mặc long bào sáng rực sau long án, một tay đang bóp trán, vẻ mặt đầy mệt mỏi, lên tiếng chất vấn lạnh lùng: “Ngươi ban hôn cho ta và Vũ An hầu?”
Hoàng đế nhìn mỹ nhân dưới bậc ngọc, khóe miệng cong lên cười như một thiếu niên không chút tâm cơ, nhưng ánh mắt lại như một con rắn độc đang thè lưỡi trong bóng tối: “Trẫm tìm cho hoàng tỷ một đấng anh hùng cái thế làm phu tế, hoàng tỷ không bằng lòng sao?”
Trưởng công chúa giận dữ nói: “Vũ An hầu lúc gặp nạn gặp một dân nữ, đã đính ước trọn đời với nàng ta, bệ hạ đây là muốn bổn cung đi làm kẻ ác đánh gãy uyên ương sao?”
Hoàng đế nói: “Hoàng tỷ lo xa rồi, chỉ là hạng dân nữ thô bỉ mà thôi, sao có thể sánh với viên minh châu của đại triều ta là hoàng tỷ đây? Vũ An hầu đã nhất đao lưỡng đoạn với dân nữ đó rồi.”
Đôi mày đẹp của Trưởng công chúa nhíu lại, khẳng định: “Không thể nào, Vũ An hầu vì muốn cưới nữ tử đó làm chính thê, thậm chí còn cầu xin Đào Thái phó đã quy ẩn nhiều năm nhận nàng ta làm nghĩa nữ, sao có thể nhất đao lưỡng đoạn?”
Hoàng đế cười nói: “Thế thì hoàng tỷ quả thực không hiểu nam nhân rồi, quyền thế ngất trời và thiên hạ đệ nhất mỹ nhân, còn không lay chuyển nổi phân lượng của một dân nữ thô bỉ trong lòng hắn sao?”
Trưởng công chúa sắc mặt càng lạnh: “Mắt bổn cung không chịu được hạt cát.”
Hoàng đế nhẹ tênh nói một câu: “Hoàng tỷ yên tâm, hoàng tỷ gả qua đó rồi sẽ vĩnh viễn không thấy dân nữ đó đâu.”
Sắc mặt Trưởng công chúa đột nhiên biến đổi: “Ngươi giết nàng ta? Ngươi không sợ Vũ An hầu mang lòng oán hận với ngươi?”
Hoàng đế cong môi: “Làm tướng quân thì chết trên chiến trường có gì lạ đâu? Vũ An hầu có oán có hận thì cũng phải hận phản tặc mới đúng, chẳng phải à?”
Hắn ta năm xưa bị Ngụy Nghiêm lấn lướt, sợ lộ tham vọng làm Ngụy Nghiêm kiêng dè nên luôn giả ngốc giả nhát. Sau này để lôi kéo Lý Thái phó, lại ở trước mặt Lý Thái phó tỏ ra ngoan ngoãn dễ kiểm soát, hai năm nay mới từng chút một để lộ nanh vuốt.
Nghe thấy câu nói đó của hắn ta, trong mắt Trưởng công chúa lộ ra vẻ kinh hãi, lặng đi hồi lâu, dường như bị sự điên rồ của hắn ta dọa tới.
Hoàng đế nhìn nữ tử trước mặt, nụ cười đôn hậu ngoan ngoãn giống hệt thiếu niên đế vương giả ngoan giả ngốc năm nào, nhưng đáy mắt tràn đầy tham vọng và dục vọng không còn đè nén nổi.
Hắn ta vuốt ve đầu rồng mạ vàng trên tay vịn ghế rồng, giọng điệu thong dong ẩn chứa kỳ vọng vô hạn: “Ngụy Nghiêm vừa đổ, hoàng quyền có thể trở về tay trẫm, có Vũ An hầu ở đây, lão thất phu Lý gia kia có gì đáng sợ?”
Hắn ta nghiêng đầu, tâm trạng rất tốt cười nói: “Dựa vào những vụ tham ô của Lý gia những năm qua, trảm hết cả nhà cũng đã đủ.”
Trưởng công chúa chưa bao giờ thấy đứa Hoàng đệ hèn nhát đôn hậu kia lại xa lạ đến thế, trên cánh tay quấn khăn lụa mỏng nổi lên một tầng da gà, nàng ta hỏi: “Vũ An hầu thì sao? Hắn nắm trọng binh trong tay, ngươi cứ thế yên tâm?”
Hoàng đế định nói gì đó, nhìn Trưởng công chúa đứng phía dưới, nụ cười trên mặt sâu thêm, đột nhiên lại ngưng lời, nói: “Trẫm đương nhiên là yên tâm, dù sao thì còn có hoàng tỷ giúp trẫm canh chừng hắn mà.”
“Trên đời này, người trẫm yên tâm nhất, chính là hoàng tỷ.”
Cái ý lạnh từ tay chân kia, chậm rãi lan lên sống lưng.
Trưởng công chúa gồng mình tự trấn định cong môi cười: “Bệ hạ tin tưởng bổn cung như vậy, là phúc của bổn cung.”
Đối với sự thay đổi thái độ của nàng ta, Hoàng đế dường như vui mừng khôn xiết, hắn ta nói: “Trẫm biết ngay mà, hoàng tỷ chắc chắn là đứng về phía trẫm, hoàng tỷ về chờ được gả đi thật vẻ vang là được.”
Trưởng công chúa đáp “được”, nhún người hành lễ rồi kéo lê tà váy cung trang lộng lẫy quay người bước ra khỏi thượng thư phòng, giống hệt lúc đến, kiêu ngạo ưỡn thẳng lưng, vẻ mặt đầy sự coi thường người khác, mười sáu cung nga theo sát phía sau.
Không ai biết rằng lụa mỏng sau lưng nàng ta đã bị mồ hôi lạnh thấm ướt, chỉ là bị mái tóc đen che khuất đi thôi.
Sau khi trở về cung điện của mình, Trưởng công chúa đóng cửa lại, tức giận đến mức đập vỡ một nền đồ sứ.
Đập mệt rồi nàng ta mới một tay chống trán ngồi lên sập mềm bên cạnh nghỉ ngơi, đôi mày trắng nõn luôn nhíu lại, rõ ràng vẫn đang phiền lòng.
Đại cung nữ cẩn thận dâng lên một chén trà hoa, khuyên nhủ: “Công chúa, ngài chớ tức giận làm hại thân thể…”
Trưởng công chúa nhận lấy chén trà, định uống nhưng nghĩ đến những lời của Hoàng đế vẫn không kiềm chế được cơn giận, trực tiếp ném chén trà đi, mảnh sứ văng tung tóe làm đám cung nữ hầu hạ bên cạnh đều giật nảy mình.
“Hắn tính là cái thá gì? Một đứa con của cung nữ thấp hèn, không có ngoại thích thì liền muốn kéo bổn cung vào vũng nước đục này!” Trưởng công chúa khuôn mặt diễm lệ đầy vẻ giận dữ.
Nàng ta là nữ nhi được tiên đế sủng ái nhất, nhưng không phải nữ nhi đầu tiên của tiên đế, chỉ là những công chúa phía trước đều chết yểu nên nàng ta mới trở thành Trưởng công chúa.
Sinh mẫu nàng ta thân phận tôn quý, nàng ta và Hoàng đế không phải là tỷ muội đồng bào.
Hoàng đế những năm này đại khái cũng muốn dựa dẫm vào ngoại tổ gia của nàng ta, nên mới thân cận với nàng ta.
Đại cung nữ lúc đó ở ngoài điện nên không biết bên trong bàn luận chuyện gì, chỉ nghĩ công chúa nhà mình vẫn vì chuyện ban hôn mà nổi giận, đắn đo mãi cuối cùng mới khuyên: “Công chúa, Công Tôn tam lang kia vì tránh ngài mà đến nay không chịu nhập sĩ, ngay cả kinh thành cũng không bước chân tới, ngài việc gì phải cứ nhớ mong hắn? Vũ An hầu chiến công hiển hách, tuổi nhược quán đã phong Hầu, nói ra thì là một lương tế hạng nhất…”
“Câm miệng!” Trưởng công chúa sắc mặt lạnh toát, móng tay bám vào tay vịn bằng gỗ của sập mềm suýt nữa vì dùng sức quá mạnh mà gãy lìa.
Đại cung nữ cả người sợ đến ngây dại.
Trưởng công chúa dường như cũng nhận ra mình phản ứng quá khích, rũ hàng mi như rẻ quạt che đi cảm xúc nhất thời mất kiểm soát lộ ra trong mắt, cười lạnh lấp liếm nói: “Ngươi tưởng Vũ An hầu có thể chết già được à?”
Đại cung nữ mặt lộ vẻ kinh hãi, biết trong đó e là có liên quan đến cục diện triều đình, vội vàng hỏi: “Thánh chỉ đã ban, quan tuyên chỉ cũng đã rời kinh rồi, giờ phải làm sao đây?”
Trưởng công chúa một mình nhắm mắt trầm tư hồi lâu, bỗng nhiên nói: “Mài mực cho ta.”
–
Khang Thành.
Một đội binh mã dừng bên sông, những tên phỉ khấu bị trói bằng dây thừng thô như những chiếc bánh ú đang ngồi túm tụm lại một chỗ, hơn mười tên thiết giáp vệ cầm đao canh giữ đám cá lọt lưới này.
Cỏ xanh bên bờ sông xanh mướt, chỉ là mới vào hè nên thân cỏ đã hơi già, chiến mã dùng chóp mũi ủi tìm mầm non để ăn.
Công Tôn Ngân sau khi nhận được thư từ thân binh phái đến Sùng Châu mang về, cả đôi chân mày đều nhíu chặt lại.
Hắn ta hỏi: “Phàn cô nương giết Trường Tín Vương, vậy mà triều đình thực sự chỉ phong nàng ấy làm Kiêu Kỵ đô úy ngũ phẩm?”
Tạ Thập Tam gật đầu: “Vô cùng xác thực, thái giám ở Ti Lễ giám đích thân đi tuyên chỉ.”
Công Tôn Ngân thắc mắc: “Cái đầu của Trường Tín Vương không đáng giá thế sao?”
Hắn ta xua tay ra hiệu cho Tạ Thập Tam lui xuống trước, nhìn sang người đang cởi trần đứng bên bờ sông, để mặc thân binh múc nước dội lên cả tấm lưng để rửa vết thương, rồi đi tới cố ý cao giọng nói: “Phàn cô nương quả thực là nữ trung hào kiệt, sau khi giết Trường Tín Vương đã được phong làm Kiêu Kỵ đô úy ngũ phẩm.”
Nước dội từ trên lưng Tạ Chinh xuống loang lổ sắc hồng nhạt của máu.
Nghe thấy lời của Công Tôn Ngân, mí mắt vốn đang khép hờ của hắn chỉ hơi nhướng lên một chút nhưng vẫn không nói lời nào, dáng vẻ lạnh lùng và không chút hứng thú.
Suốt nửa tháng qua, hắn đi chung quanh dẹp phỉ, phá sạch tất cả các ổ phỉ quanh Khang Thành, vết thương trên lưng cứ sắp lành lại rách ra.
Nhưng lại chưa thấy hắn bôi thuốc lần nào.
Khi thân binh lại một lần nữa dùng bình nước múc nước dội xuống vết thương không ngừng rỉ máu trên lưng, hắn dường như cảm thấy đã gần đủ, giơ tay ra hiệu cho thân binh lui xuống, lấy ngoại bào trực tiếp mặc vào.
Công Tôn Ngân nhìn mà nhíu mày, nói: “Vết thương này của ngươi mà cứ tiếp tục thế này thì sớm muộn cũng mất mạng.”
Tạ Chinh dường như ngay cả lời cũng lười đáp, vén vạt áo đi vào trong: “Phỉ hoạn quanh Khang Thành đã dẹp xong, ta có việc quay về Huy Châu một chuyến, chỗ này giao cho ngươi.”
Công Tôn Ngân nhìn sắc mặt tái nhợt mang theo vài phần bệnh tật dưới ánh mặt trời của hắn, định mắng hắn một trận rồi lại nhịn được, chỉ nói: “Nghe nói Lý Hoài An ghi chú mấy cuốn binh thư làm quà chúc mừng cho Phàn cô nương, giao tình của ta với Phàn cô nương, dù sao cũng tốt hơn hắn với Phàn cô nương một chút, vừa khéo phải áp giải Tùy Nguyên Thanh đến Sùng Châu, nên ta sẽ không ở lại Khang Thành nữa, nhân tiện còn có thể mang một món quà cho Phàn cô nương luôn.”
Bước chân Tạ Chinh hơi khựng lại, buông một câu “tùy ngươi”, rồi ngay cả đầu cũng không ngoảnh lại tiếp tục đi thẳng.
Công Tôn Ngân nhìn bóng lưng hắn tung người lên ngựa, cuối cùng tức giận mắng to: “Tạ Cửu Hành! Ngươi giỏi lắm! Ngươi mà thực sự buông bỏ được, thì về nhà hãy đem con búp bê gỗ xấu xí trong phòng ngươi vứt vào chậu than mà đốt quách đi!”
Chiến mã tung bụi mịt mù rời đi, người trên lưng ngựa hoàn toàn không cho hắn ta bất kỳ lời đáp lại nào nữa.
Đám thiết giáp vệ ở lại ngẩn người ra, ngay sau đó cũng dẫn theo đám phỉ tặc bị bắt đi theo sau.
Chỉ còn một mình Công Tôn Ngân ở lại tại chỗ vẫn còn đang mắng nhiếc không thôi.
–
Tạ Chinh chỉ mang theo hai tên thân vệ, ngày đêm khoác sao đội trăng quay về Tạ gia ở Huy Châu.
Phụ thân hắn năm xưa trấn thủ Tây Bắc chính là định cư ở Huy Châu, theo một nghĩa nào đó, Tạ gia ở Huy Châu mới là tổ trạch.
Tạ trạch ở kinh thành, là do phụ thân hắn mua khi thành thân, từng thân cây ngọn cỏ trong ngôi nhà đó cũng được bố trí theo sở thích của người nữ nhân kia.
Gia tướng canh giữ ở tổ trạch Huy Châu thấy Tạ Chinh về phủ lúc nửa đêm thì rất kinh ngạc.
Nói là gia tướng thực ra cũng là gia bộc, đều là những người năm xưa theo phụ thân hắn chinh chiến bị cụt tay hoặc gãy chân, cả đời này cũng không thể lên chiến trường được nữa.
Tạ gia sẽ nuôi dưỡng những người này cả đời.
Tạ Chinh không làm kinh động quá nhiều người, trực tiếp đi đến từ đường, ở trước những bài vị phía trên, quỳ suốt một đêm.
Cho đến rạng sáng ngày hôm sau, cửa từ đường mới một lần nữa được người từ bên ngoài mở ra.
Một nam nhân trung niên thọt chân cụt tay nhưng diện mạo rất vạm vỡ tập tễnh bước vào từ đường, nhìn người đang ưỡn thẳng lưng như một gốc bách xanh quỳ trên bồ đoàn, ôn hòa nói: “Nghe nói Hầu gia về phủ đêm qua, sao không sai người báo một tiếng?”
Tạ Chinh nói: “Trung bá, ta về là để thỉnh phạt.”
Đôi mắt nam nhân trung niên thọt chân cụt tay thoáng qua vài nét kỳ dị, ngay sau đó lại bình ổn trở lại, hỏi: “Thỉnh bao nhiêu phạt?”
Tạ gia có tộc quy tổ huấn, hễ nam nhi Tạ thị phạm đại lỗi, đều phải đến từ đường thỉnh phạt.
Trong mười bảy năm qua, lần duy nhất Tạ Chinh thỉnh phạt, chính là khi hắn đoạt lại Cẩm Châu, ăn miếng trả miếng, nợ máu trả bằng máu, giống như quân Bắc Quyết năm xưa đồ sát bách tính Đại Dận, hắn cũng hạ lệnh đồ sát tất cả người Bắc Quyết trong thành Cẩm Châu.
Tạ thị xưa nay xuất nhân tướng, sau chuyện đồ sát thành, thế nhân chỉ nhớ đến danh sát tướng của hắn, không còn nhớ đến phong thái nhân tướng của Tạ thị nữa.
Kẻ cầm binh mà không thu giữ được lệ khí của mình, đó là điều đại kỵ.
Lần thỉnh phạt duy nhất đó của Tạ Chinh, chính là thỉnh gia phạt nặng nhất trong tổ huấn Tạ thị, một trăm linh tám roi.
Hôm nay, hắn quỳ trước linh vị tổ tiên Tạ thị, cũng đáp: “Một trăm linh tám roi.”
Con số này làm đôi mắt nam nhân trung niên lại nổi lên vẻ kỳ lạ, hỏi: “Hầu gia phạm phải chuyện gì?”
Tạ Chinh nhìn vào bài vị của Tạ Lâm Sơn ở chính giữa từ đường, nói: “Trung thúc sau này sẽ biết thôi.”
Tạ Trung cũng từng là người ra vào chốn sa trường, vốn rất nhạy cảm với mùi máu tươi, vết máu thấm đẫm áo bào từ vết thương nứt ra trên lưng Tạ Chinh cũng đặc biệt rõ ràng.
Ông ta lưỡng lự nói: “Trên người Hầu gia hình như có vết thương không nhẹ.”
Tạ Chinh chỉ đáp: “Không sao.”
Tạ Trung liền lấy cây roi da trăn treo trên bức tường bên cạnh xuống, lặng lẽ nhìn Tạ Chinh hai nhịp thở rồi mới nói: “Bắt đầu nhé?”
Tạ Chinh trầm mặc “ừ” một tiếng.
“Minh minh ngã tổ, dận sử lưu phương, huấn tử cập tôn, tất bản nghĩa phương.”
Kèm theo lời tổ huấn hào hùng đọc lên là một roi nặng nề quất xuống lưng Tạ Chinh.
Thân hình Tạ Chinh run lên, tấm lưng gồng cứng như một khối thép, hai bàn tay buông thõng bên sườn cũng nắm chặt thành quyền mới không bị ngã nhào về phía trước.
Nhưng quần áo trên lưng trực tiếp bị roi đó quất rách một đường, trên da thịt nổi lên một vệt roi sưng tấy đến mức gần như xung huyết rách da.
Quy định của Tạ gia là khi hành phạt phải tụng đọc tổ huấn kèm theo quất roi, để người chịu phạt biết tại sao bị phạt, cũng để ghi nhớ tổ huấn vào tận xương tủy.
“Ngưỡng dịch tư chỉ, cánh gia thôi tường, viết chư duệ tôn, thính ngã huấn chương.”
“Chát!”
Lại là một roi nặng nề quất xuống, vệt roi chồng lên vết thương cũ đã nứt ra không biết bao nhiêu lần trên lưng, máu thịt văng tung tóe, Tạ Chinh đau đến mức đôi môi trắng bệch, mồ hôi lạnh như những hạt châu lăn xuống từ thái dương, bàn tay nắm quyền nổi đầy gân xanh, nhưng hắn vẫn không hề rên rỉ một tiếng.
Tổ huấn Tạ thị kèm theo tiếng roi từng nhát từng nhát rơi xuống, cả tấm lưng Tạ Chinh vệt roi chằng chịt, đã bị máu thấm đẫm đến mức không nỡ nhìn, ngay cả trên mí mắt cũng vương những giọt mồ hôi, nhưng hắn vẫn mở mắt, không rời mắt khỏi bài vị của Tạ Lâm Sơn trên từ đường.
Đến nhát roi thứ chín mươi tám, máu chảy ra từ sau lưng đã thấm thấu áo bào của hắn, ngay cả trên gạch nền cũng hội tụ thành một vũng nhỏ.
Hắn quỳ không vững nữa, cả người đổ nhào về phía trước, trước mắt tối sầm, gần như không còn nhìn rõ bài vị trên từ đường.
Cánh tay Tạ Trung đã đau mỏi, cây roi da trăn trên tay đầy máu.
Ông ta là người nắm giữ hình phạt của thế hệ này của Tạ thị, dù trong lòng có không nỡ thế nào, khi chấp hành xử phạt cũng không thể nương tay.
Chỉ lần này, ông ta nói: “Hầu gia, đến đây thôi.”
Tạ Chinh nằm rạp dưới đất, con búp bê gỗ nhét trong ngực rơi ra ngoài, lòng bàn tay hắn vì nhịn đau đã bị bấm đến mức máu tươi đầm đìa, khi nhặt con búp bê lại, con búp bê to bằng bàn tay cũng dính phải máu.
Hắn chậm rãi động đậy mí mắt, hỏi: “Còn thiếu bao nhiêu roi?”
Tạ Trung đáp: “Mười roi.”
Tạ Chinh liền một tay chống đất, một tay cầm con búp bê, từ từ quỳ thẳng lên, ưỡn thẳng tấm lưng đầy vệt máu lần nữa, nói: “Tiếp tục.”
Đáy mắt Tạ Trung lóe lên vẻ không nỡ nhưng vẫn cao giọng đọc tổ huấn, dùng sức vung roi quất xuống.
Máu thịt bắn tung tóe trên gạch nền dưới thân, rực rỡ như những đóa hoa máu đang nở rộ.
Mười roi nói nhiều không nhiều, nói ít không ít, khi đánh xong, cả người Tạ Chinh đều đầm đìa máu, đầu ngón tay vì bấm quá mạnh gần như lún sâu vào con búp bê gỗ đó, hắn cúi gằm đầu, mí mắt cũng không mở ra nổi nữa.
Tạ Trung sợ thương thế hắn quá nặng xảy ra chuyện gì bất trắc, vội bước ra khỏi từ đường gọi người đi mời đại phu.
Tạ Chinh quỳ trên đất thở dốc, sau lưng đã đau đến mức gần như mất sạch cảm giác.
Một lúc lâu sau, hắn mới lấy lại được chút sức lực, gồng mình mở đôi mí mắt nặng tựa nghìn cân, nhìn bài vị của Tạ Lâm Sơn, dập đầu một cái, khàn giọng nói: “Hài nhi bất hiếu.”
Trong lòng hắn đã mọc lên một bóng hình, hắn đã khoét cả trái tim mình ra rồi mà vẫn luyến tiếc, không buông xuống được.
Lúc đầu dùng những cuộc chinh chiến và giết chóc không ngừng còn có thể tạm thời làm tê liệt thần kinh, nhưng sau đó cái đau từ những vết thương nứt ra hết lần này đến lần khác cũng không đè nén nổi ý muốn được gặp nàng.
Rõ ràng là đau đến mức cả người đều co giật, nhưng cứ không thể nào tỉnh táo lại được.
Hoặc giả, vốn dĩ hắn luôn tỉnh táo.
Hắn chính là muốn gặp nàng.
Muốn đến mức cả xương cốt toàn thân đều đau nhức.
Chịu xong một trăm linh tám roi hình phạt này, hắn đã có thể đi tìm nàng.
