Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]

Chương 82:



Lượt xem: 11,177 | Cập nhật: 17/03/2026 16:44

Trong lều, Tạ Chinh nhìn vết máu gà trên vạt áo và áo choàng của mình, cau mày hỏi: “Máu có nhiều quá không?”

Công Tôn Ngân một mặt chỉ huy Tạ Thất đem con gà rừng vừa thịt xong kia sang doanh Hỏa đầu hầm canh, một mặt nói: “Ngươi đâu phải chưa từng đến doanh Thương bệnh, những thương binh kia thiếu tay cụt chân đều có, ai mà chẳng cả người đầy máu? Phàn cô nương ở doanh Thương bệnh giúp việc đã nhìn thấy nhiều rồi, không làm nhiều một chút sao mà lừa được nàng ấy?”

Trong lúc nói chuyện, hắn ta tinh mắt phát hiện bên cạnh áo choàng còn dính một sợi lông tơ của con gà rừng rụng xuống lúc vùng vẫy chưa dọn sạch, bèn vội vàng nhặt đi.

Phát hiện sắc mặt Tạ Chinh tuy tái nhợt, dưới mắt cũng có quầng thâm nhàn nhạt, nhưng lại chẳng có chút dáng vẻ nào là đang sốt cao, lại không nhịn được nói: “Đêm qua ngươi đã hứng gió lạnh cả đêm, lại dùng nước lạnh gội đầu, sao mà vẫn chẳng có dấu hiệu phát sốt thế này?”

Tạ Chinh: “…”

Công Tôn Ngân đành buông xuôi nói: “Thôi thôi, diễn một màn khổ nhục kế như thế này chắc cũng đủ rồi.”

Ngoài lều vang lên giọng của Tạ Ngũ: “Ở ngay bên trong!”

Công Tôn Ngân vội vàng lùi lại, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, lộ ra vẻ mặt thương xót.

Phàn Trường Ngọc theo quân y vội vã vào lều, vừa nhìn đã thấy Tạ Chinh đang nằm trên giường với vẻ mặt xanh xao suy yếu, vạt áo trước ngực có một vũng máu lớn đỏ thẫm chói mắt không thôi.

Tim nàng thắt lại, vội vàng tiến lên: “Ngôn Chính!”

Tạ Chinh nhắm nghiền hai mắt, đôi môi mỏng khô nẻ, sắc mặt trắng bệch như tuyết, tóc con rối bù xòa trước trán, dưới mắt cũng có một quầng thâm xanh nhạt, trông vô cùng tiều tụy lại thảm hại.

Phàn Trường Ngọc chỉ cảm thấy tim mình như bị một bàn tay lớn bóp nghẹt, vũng máu sẫm màu trên chiếc áo choàng khiến hốc mắt nàng cay xè.

Chỉ qua một đêm thôi mà, sao người hôm qua còn khỏe mạnh, đột nhiên lại thành ra thế này?

Lý trí còn sót lại giúp nàng lùi ra một bước, quay sang nói với quân y: “Ông mau bắt mạch xem cho huynh ấy đi!”

Vị quân y cũng bị cái trận thế này làm cho hết hồn, sợ Tạ Chinh có mệnh hệ gì, vội vàng bắt lấy cổ tay Tạ Chinh để thăm mạch, khi cảm nhận được mạch đập dưới ngón tay, thần sắc quân y lộ ra chút khác lạ, nhưng vừa ngẩng đầu đã thấy Công Tôn Ngân ở đối diện đưa mắt ra hiệu.

Quân y vội vàng trầm ngâm một tiếng, lộ ra biểu cảm nghiêm trọng tiếp tục bắt mạch, khiến tim Phàn Trường Ngọc đập thình thịch.

Được một hồi, quân y mới thu tay lại nói: “Phàn cô nương, bệnh trạng của phu tế ngươi nguy hiểm lắm đấy!”

Phàn Trường Ngọc vội vàng nói: “Quân y, xin ông hãy cứu lấy huynh ấy!”

Quân y vuốt râu dê tỏ vẻ khó xử: “Hắn ho ra máu thế này, xem ra vết thương trước đó vẫn còn tích không ít máu bầm trong phổi, nhất định phải tư âm nhuận phế, cộng thêm mất máu quá nhiều và gan hỏa vượng, còn phải dưỡng huyết cầm máu. Lão phu sẽ kê mấy vị thuốc sắc cho hắn uống trước, nhưng sau này bên cạnh tốt nhất luôn phải có người trông coi, tránh để hắn lúc hôn mê ho ra máu, dẫn đến sặc máu mà chết.”

Phàn Trường Ngọc hiện tại vẫn còn đang sợ hãi vô cùng, vội nói: “Ta sẽ một tấc không rời mà trông chừng huynh ấy.”

Quân y lui xuống bốc thuốc, Phàn Trường Ngọc nhìn Tạ Chinh đang nằm giữa vũng máu, mũi cũng bắt đầu cay cay, trong lòng không khỏi tự trách mình.

Ngôn Chính trọng thương chưa khỏi, hôm qua mình còn giận dỗi cái gì, cớ sao lại nói sau này không đến đây nữa?

Ngôn Chính nếu có mệnh hệ gì, nàng e rằng sẽ áy náy cả đời.

Công Tôn Ngân vừa nhìn sắc mặt Phàn Trường Ngọc là biết khổ nhục kế này đã thành công, đúng lúc lên tiếng an ủi: “Phàn cô nương chớ quá lo lắng, Ngôn tiểu huynh đệ nhất định sẽ cát nhân thiên tướng thôi.”

Vừa vào lều, mọi sự chú ý của Phàn Trường Ngọc đều đặt lên người Tạ Chinh, lúc này mới phát hiện Công Tôn Ngân cũng có mặt, nói: “Công Tôn tiên sinh cũng qua đây sao?”

Công Tôn Ngân nói dối mà mặt không đỏ hơi không gấp: “Ngôn tiểu huynh đệ đột nhiên ho ra máu, Tiểu Ngũ nhất thời cuống quýt, đúng lúc ta đang tuần doanh gần đây nên bảo hắn đi tìm quân y trước, ta thay hắn trông chừng Ngôn tiểu huynh đệ một lát.”

Phàn Trường Ngọc thay Tạ Chinh cảm ơn Công Tôn Ngân, Công Tôn Ngân cười nói: “Đều là những chàng trai tốt ra trận giết địch của Đại Dận ta, giữ được tính mạng mới có thể tiếp tục bảo vệ giang sơn Đại Dận, có gì mà phải cảm ơn. Đã có Phàn cô nương ở đây canh giữ, ta không làm phiền thêm nữa.”

Sau khi tiễn Công Tôn Ngân đi, Phàn Trường Ngọc kéo một chiếc ghế đôn nhỏ ngồi bên giường Tạ Chinh, nghẹn ngào nói: “Huynh nhất định phải khỏe lại nhé.”

Có lẽ vì ngồi quá gần, Phàn Trường Ngọc ngửi thấy mùi máu tươi trên chiếc áo choàng, đột nhiên mũi hít mạnh một cái.

Nàng thường xuyên giết lợn, đối với mùi máu lợn rất nhạy cảm, những ngày này lại lăn lộn trên đầu đao ngọn thương nên cũng không lạ lẫm gì với mùi máu người, đống máu trên chăn đệm này không chỉ có mùi tanh nồng, lại còn thoang thoảng mùi lông gà thế nhỉ?

Nàng ghé sát lại định ngửi kỹ hơn thì Tạ Chinh “hôn mê đã lâu” bỗng dưng hàng mi dài khẽ động, yếu ớt mở mắt ra.

Phàn Trường Ngọc lập tức quên sạch mọi chuyện, reo lên vui mừng: “Ngôn Chính, huynh tỉnh rồi sao?”

Tạ Chinh nhìn nàng hồi lâu, mới nói: “Nàng đến rồi.”

Giọng nói khàn đục vỡ vụn, như thể vì ho quá dữ dội mà làm tổn thương cổ họng.

Chỉ một câu nói ấy thôi đã khiến lòng Phàn Trường Ngọc thấy xót xa khôn tả, nàng đắp lại góc chăn cho hắn rồi nói: “Quân y nói huynh bị ho ra máu là nội thương, cần phải tẩm bổ tử tế, sau này ta sẽ luôn ở đây, huynh cứ yên tâm dưỡng thương là được.”

Bờ môi tái nhợt của Tạ Chinh còn dính vết máu, càng lộ vẻ suy nhược, chậm rãi nói: “Ta đã nghe kể về những chuyện của nàng ở Kế Châu rồi.”

Phàn Trường Ngọc không biết hắn nói những lời này là có ý gì, nhất thời không lên tiếng, chỉ nghe hắn khó khăn nói tiếp: “Trải qua bấy nhiêu chuyện, nàng từ lâu đã không còn là cô nương bình thường chỉ biết giết lợn bán thịt ở trấn Lâm An năm xưa nữa, sau khi nàng trở về, ta chỉ lo quở trách nàng, là ta không đúng.”

Nghe hắn một lần nữa xin lỗi vì những lời nặng nề hôm qua, lại càng khiến Phàn Trường Ngọc thấy hổ thẹn hơn, nàng cúi đầu lý nhí: “Lời huynh dạy ta không sai, ta và các tướng sĩ xuống núi có thể rút lui an toàn chẳng qua là do may mắn, nếu không có A Thất huynh đệ kịp thời mang viện binh tới, có lẽ ta và những tướng sĩ đi cướp doanh trại địch đều đã bị giẫm chết dưới vó ngựa của phản tặc rồi.”

Nàng đã chuẩn bị tâm lý kỹ càng, cuối cùng cũng có dũng khí ngẩng đầu nhìn thẳng vào Tạ Chinh nói: “Bị huynh dạy dỗ xong lại nổi giận vô cớ với huynh, là do ta lòng dạ hẹp hòi, ta sẽ sửa.”

Giây phút này lòng nàng tràn ngập sự áy náy, thấy bên môi Tạ Chinh vẫn còn không ít vết máu, nàng định đi lấy nước nóng để lau rửa cho hắn.

Tạ Chinh nhìn bóng lưng nàng rời đi, đôi mày khẽ nhíu lại.

Sao lại lái sang tới chuyện lòng dạ hẹp hòi rồi?

Đợi Tạ Ngũ bưng bát thuốc đã sắc xong tới, cũng là Phàn Trường Ngọc nhận lấy rồi múc từng thìa đút cho Tạ Chinh.

Chiếc áo choàng dày dặn vơ vét được từ doanh trại phản tặc, Tạ Chinh dùng làm chăn đệm, hiện giờ đã dính vết máu, Phàn Trường Ngọc biết hắn ưa sạch sẽ nên quay về chỗ ở của mình, lấy chiếc áo choàng mà nàng và Trường Ninh đắp buổi tối mang qua cho Tạ Chinh đắp tạm, định mang chiếc áo choàng dính máu và chiếc áo lót trên người Tạ Chinh đi giặt sạch.

Tạ Ngũ sợ Phàn Trường Ngọc trong lúc giặt sẽ phát hiện ra manh mối gì đó, nên đã giành lấy mang đi giặt trước.

Đến buổi tối, Phàn Trường Ngọc muốn trông chừng Tạ Chinh nhưng lại không yên tâm để một mình Trường Ninh ở trong lều, thấy trong lều này vẫn còn giường quân đội dư ra, nàng liền đón cả Trường Ninh qua đây, để Trường Ninh ngủ cùng mình ở bên này.

Lúc nàng trải lại giường, liền thắc mắc: “Mấy lều trại thương binh kia đều chen chúc bao nhiêu người, sao bên này lại trống nhiều giường thế này mà không thấy đưa người qua?”

Mấy vị quân y tránh Tạ Chinh còn không kịp, làm sao dám đưa thương binh vào lều này.

Trên núi dù là dầu đèn hay nến đều rất quý giá, hễ đêm đến là hầu hết các lều quân đều dùng chậu lửa để chiếu sáng.

Ngọn lửa liếm láp bóng đêm, nửa khuôn mặt Tạ Chinh được phủ lên một lớp ánh lửa vàng ấm áp, mày mắt thanh tú như được vẽ bằng bút mực, đường nét khuôn mặt góc cạnh rõ ràng, hắn hơi nghiêng đầu, nhìn Phàn Trường Ngọc đang trải giường, nghiêm túc nói dối: “Không rõ nữa, có lẽ quân y có sự sắp xếp riêng của họ.”

Phàn Trường Ngọc cũng không hiểu biết nhiều về cách quản lý trong quân doanh, nên không suy nghĩ sâu xa thêm về vấn đề này, trải giường xong, để Trường Ninh đang buồn ngủ rũ rượi nằm xuống xong, nàng mới nói với Tạ Chinh: “Đêm nay huynh muốn uống nước hay muốn đi xí, thì cứ gọi ta một tiếng.”

Tạ Chinh nghe thấy hai chữ “đi xí”, vành tai bỗng đỏ lựng, kinh ngạc nhìn về phía Phàn Trường Ngọc.

Phàn Trường Ngọc bắt gặp ánh mắt của hắn, bỗng nhiên hiểu ra, mặt cũng nóng bừng lên theo, quay người đi nói: “Nghĩ gì thế, huynh gọi ta, ta sẽ đi gọi các vị quân gia tuần doanh gần đây vào giúp.”

Để thuận tiện chăm sóc Tạ Chinh, chiếc giường Phàn Trường Ngọc và Trường Ninh nằm ngay sát cạnh giường Tạ Chinh, khoảng cách giữa hai giường chưa đầy ba thước.

Những ngày này nàng quá mệt mỏi, hầu như vừa đặt lưng xuống giường là đã ngủ thiếp đi.

Tạ Chinh nghe nhịp thở của hai tỷ muội đều đã đều đặn, mới quay đầu nhìn sang bên cạnh giường, trong chậu lửa còn lại một khúc củi đang cháy, ngọn lửa yếu ớt bập bùng, ánh lửa như làn sóng phủ lên mặt Phàn Trường Ngọc, khiến gương mặt bình thản ấy thêm vài phần tươi đẹp khó tả nên lời.

Một luồng rung động nảy mầm trong lòng, thế tới rào rạt, tựa như vạn con kiến cắn xé, Tạ Chinh nhìn chăm chăm vào bờ môi hơi mím lại vì nằm nghiêng của Phàn Trường Ngọc hồi lâu, sắc tối trong đáy mắt còn đậm đặc hơn cả bóng đêm, nhưng cuối cùng hắn chẳng làm gì cả, dời tầm mắt, xoay người sang phía bên kia nhắm mắt chìm vào giấc ngủ sâu.

Ngày hôm sau, lều trại bên này được điều đến một nhóm thương binh mới, có người bị thương ở tay, có người bị thương ở chân, tóm lại không phải loại nằm liệt trên giường không cử động được, giữa họ có thể tự chăm sóc lẫn nhau.

Phàn Trường Ngọc liền nhận lấy việc sắc thuốc cho những thương binh này, cũng thuận tiện ban ngày ở đây chăm sóc Tạ Chinh, buổi tối nàng vẫn dẫn Trường Ninh về ngủ ở lều của mình, Tạ Chinh thì nhờ các thương binh mới đến giúp trông nom đôi chút.

Nhóm thương binh mới đến đều rất dễ tính, ngày thường cũng không mấy khi ồn ào, Phàn Trường Ngọc cảm thấy họ có chút khác biệt so với những thương binh nàng từng chăm sóc trước kia, nhưng nghĩ bụng mỗi người một tính nên cũng không để tâm.

Nào ngờ, những thương binh này đều là do đêm hôm trước Tạ Chinh nghe thấy câu hỏi của Phàn Trường Ngọc, nên đã bảo Công Tôn Ngân chuyển những người bị thương trong đội thân vệ sang đây.

Thấm thoắt, nửa tháng đã trôi qua.

Lúc rảnh rỗi chăm sóc thương binh, Phàn Trường Ngọc lại lấy mấy cuốn sách trong bọc quần áo ra nghiên cứu, vừa hay có Ngôn Chính ở bên cạnh, có sẵn một vị phu tử, chỗ nào không hiểu nàng có thể hỏi thẳng hắn.

Tạ Chinh thấy Phàn Trường Ngọc đang cầm cuốn “Mạnh Tử”, hỏi: “‘Luận Ngữ’ đã học xong rồi sao?”

Phàn Trường Ngọc thành thật đáp: “Học xong rồi.”

Những cảnh tượng khi gặp sơn phỉ năm xưa, nàng ra sức bảo vệ Lý Hoài An hiện lên trong đầu, đôi mắt phượng dài hẹp của Tạ Chinh hơi nhướng lên, hỏi: “Tự mình đọc sách mà học được sao?”

Phàn Trường Ngọc nói: “Văn chương trong đó tinh diệu, nhiều chỗ đọc chú giải vẫn không hiểu nổi, khi ta sửa đập nước ở thượng du Kế Châu có gặp một vị lão tiên sinh, lão tiên sinh mặt lạnh tâm thiện kia đã dạy ta học hết.”

Nhắc đến Đào lão đầu, trên mặt Phàn Trường Ngọc thêm vài phần kính trọng: “Huynh không biết đâu, vị lão nhân gia đó cũng là một nhân vật ghê gớm đấy, sau này ông ấy còn trở thành mưu sĩ trong quân, chỉ là tuổi tác đã cao mà dưới gối không có mụn con nào, đứa học trò duy nhất của ông ấy lại chẳng thèm ngó ngàng gì đến ông ấy nữa, thật là đáng thương quá chừng, lúc ông ấy cùng ta đào đá trên núi, ngày nào cũng mắng chửi đứa học trò kia của ông ấy đấy!”

Không phải học từ Lý Hoài An, lòng Tạ Chinh thấy dễ chịu hơn hẳn, nghe Phàn Trường Ngọc kể về trải nghiệm trước kia bị cho rằng là mật thám bị bắt nhầm rồi phải đi đào đá sửa đập, trong lòng lại có vài phần vi diệu.

Kế sách là do hắn đưa ra, nhưng nhân mã phụ trách sửa đập đều là phía Hạ Kính Nguyên, lúc đó hắn đang ở Yến Châu, thực sự không biết Phàn Trường Ngọc bị giam giữ ở đó.

Cuối cùng hắn chỉ bình luận vài câu về lời nói của Phàn Trường Ngọc vừa rồi: “Học trò của ông ấy đã không tôn sư trọng đạo, giờ ông ấy đắc thế rồi thì cứ dạy dỗ lại tên học trò đó là được.”

Phàn Trường Ngọc nhìn Tạ Chinh một cái, có chút không vui nói: “Đào lão tiên sinh tuy miệng lưỡi không nể nang ai, nhưng tấm lòng lại rộng lượng lắm đấy.”

Tạ Chinh nghe thấy lão tiên sinh kia họ Đào, đầu ngón tay lướt qua trang sách hơi khựng lại một chút, hỏi: “Ông ấy tên là gì?”

Phàn Trường Ngọc nói: “Không biết, ông ấy chỉ nói mình họ Đào.”

Người họ Đào ở thiên hạ này có biết bao nhiêu, Tạ Chinh nghĩ lại lời Phàn Trường Ngọc kể ông lão đó ngày nào cũng mắng đứa học trò sói mắt trắng kia, chuyện này xem ra chẳng liên quan gì đến Đào thái phó cả.

Lão sư đã quy ẩn nhiều năm, nếu có xuống núi, cũng phải đến tìm hắn mới đúng.

Hắn thu lại suy nghĩ, nói: “Đã có ơn với nàng, sau này đề bạt ông ấy một chút là được.”

Lời vừa thốt ra, chỉ thấy Phàn Trường Ngọc nhìn mình với ánh mắt quái dị.

Tạ Chinh biết mình lỡ lời, chưa kịp cứu vãn thì đã nghe Phàn Trường Ngọc nhíu mày nói: “Đào lão tiên sinh hiện đã là phụ tá dưới trướng Đường tướng quân, huynh có thể đề bạt được gì cho ông ấy chứ? Huynh cũng đâu phải tướng quân. Lời này chớ có nói bừa, nhỡ để Đào lão tiên sinh biết được thì thật không hay.”

Tạ Chinh nghẹn lời, sau đó mới bảo: “Ta nói là chuyện sau này.”

Thần sắc Phàn Trường Ngọc có chút bất đắc dĩ: “Huynh liền chắc chắn mình có thể làm tướng quân đến thế sao?”

Thần sắc Tạ Chinh hơi động, ngước mắt lên khỏi cuốn sách: “Nếu ta làm một chức quan còn lớn hơn cả tướng quân thì thế nào?”

Phàn Trường Ngọc rất hoang mang: “Chức quan lớn hơn tướng quân là chức gì?”

Tạ Chinh làm như vô tình nói: “Phong hầu bái tướng.”

Phàn Trường Ngọc không đọc sách nữa, hỏi hắn: “Vết thương còn đau không?”

Tạ Chinh, người được chăm sóc chu đáo suốt nhiều ngày qua, không hiểu Phàn Trường Ngọc đột ngột hỏi vậy là có ý gì, bèn cân nhắc đáp: “Cũng ổn rồi, chỉ là hễ hơi vận sức là lại đau nhói dữ dội.”

Thực ra vết thương đã lành được bảy tám phần, chỉ cần không dùng sức quá mạnh thì cơ bản sẽ không đau lắm.

Phàn Trường Ngọc đưa bát thuốc đã để nguội qua: “Uống thuốc trước đi, dưỡng thương cho tốt rồi hãy nghĩ đến chuyện phong hầu bái tướng.”

Tạ Chinh: “…”

Lại qua hai ngày nữa, vết thương của Tạ Chinh vẫn chẳng có chút “khởi sắc” nào, Công Tôn Ngân, người đang đau đầu nhức óc vì một đống việc quân vụ và tấu sớ từ kinh thành gửi tới, hai mắt thâm quầng đầy sát khí đi thăm bệnh.

Phàn Trường Ngọc đã nhiều ngày không gặp hắn, đột nhiên nhìn thấy một Công Tôn Ngân hai mắt đen sì, thần sắc mệt mỏi thì không khỏi giật mình: “Công Tôn tiên sinh bị làm sao vậy?”

Sát khí trên người Công Tôn Ngân dịu lại, gượng gạo nặn ra một nụ cười ôn hòa: “Chút việc vặt quấn thân, bận rộn đôi chút thôi.”

Phàn Trường Ngọc nói: “Công Tôn tiên sinh vẫn nên chú ý giữ gìn sức khỏe nhé.”

Công Tôn Ngân cười đáp lời, lại hỏi: “Vết thương của phu tế ngươi thế nào rồi?”

Phàn Trường Ngọc suy nghĩ một lát rồi nói: “Quân y nói nội thương của huynh ấy khá nặng, phải từ từ tẩm bổ, chỗ vết thương vẫn còn đau.”

Công Tôn Ngân vẫn giữ nụ cười trên mặt, nhưng nhìn kiểu gì cũng thấy như đang nghiến răng nghiến lợi: “Vậy sao? Ta vào xem thử.”

Vừa hay Phàn Trường Ngọc phải đi sắc thuốc, Công Tôn Ngân vừa vào lều liền cho lui những thân vệ cũng đang nằm theo suốt nửa tháng qua, vết thương đã bắt đầu bong vảy mà vẫn phải quấn băng gạc giả vờ bị thương kia đi, nhìn Tạ Chinh đang đắp một cuốn sách lên mặt ngủ trưa, hắn ta nghiến răng kêu ken két, giật phắt cuốn sách xuống, gầm lên: “Vết thương của ngươi mà không khỏi nữa, lão tử sẽ mệt chết trong đống công văn kia mất!”

Lúc trước khi bày mưu hiến kế hăng hái ra sức bao nhiêu, hiện giờ Công Tôn Ngân lại hối hận bấy nhiêu.

Tên này thì đúng là đi tĩnh dưỡng thật rồi, còn mình thì mệt như con lừa kéo cối xay ấy.

Không! Con lừa còn thảnh thơi hơn hắn ta!

Hắn ta đã tạo nghiệt gì thế này không biết! Tự đào hố chôn mình!

Mất đi cuốn sách che ánh sáng, ánh mặt trời chói mắt khiến Tạ Chinh nhíu mày, khi hắn lười biếng mở mắt ra, có lẽ nhờ những ngày này ăn ngon ngủ kỹ nên đã khôi phục nguyên khí, gương mặt ấy thực sự tuấn mỹ bức người, khiến Công Tôn Ngân nhìn mà đỏ cả mắt, hận không thể bóp cổ hắn mà đòi mạng.

Đã từng có lúc, hắn ta mới là người ngọc thụ lâm phong, tiên khí phiêu diêu kia chứ! Tạ Chinh vừa trốn ở đây giả bệnh, để tránh bị Phàn Trường Ngọc phát hiện, từ đó đến nay một chữ cũng không thèm động đến bút mực, cùng lắm là sai các thân vệ cũng đang giả bệnh qua truyền lời cho hắn ta, chỉ thị hắn ta làm việc.

Công Tôn Ngân bây giờ hễ nhắm mắt lại là thấy đống công văn chất đống trước mặt chưa phê xong, đúng là đòi mạng hắn ta mà!

Tạ Chinh ngồi dậy, chẳng thèm để ý đến sự phát điên của Công Tôn Ngân, liếc nhìn cuốn sách bị hắn ta làm nhăn nheo, lười biếng nâng mắt lên, sắc tối trong mắt dường như đã có chút không vui: “Đưa đây.”

Công Tôn Ngân thấy hắn như vậy, không khỏi liếc nhìn bìa sách, phát hiện trên đó viết hai chữ “Mạnh Tử”, chỉ thấy kỳ lạ, nói: “Tứ thư ngươi đã học từ lúc mới vỡ lòng, sao lên núi còn mang theo cuốn sách này?”

Hắn ta hồ nghi nói: “Coi trọng như thế, chắc không phải loại sách không đứng đắn gì chứ?”

Tiện tay lật ra, hắn ta phát hiện bên trong từng chữ từng câu đều được chú giải vô cùng chi tiết, tuy đã thay đổi kiểu chữ, nhưng Công Tôn Ngân vẫn nhận ra ngay đó là bút tích của Tạ Chinh.

Chưa kịp xem kỹ, cuốn sách đã bị Tạ Chinh giật lại.

Công Tôn Ngân tức thì càng thêm bi phẫn: “Ta phải bắt chước bút tích của ngươi để phê công văn hộ ngươi, tay sắp gãy đến nơi rồi, còn ngươi rảnh rỗi không có việc gì làm lại đi chú giải cả một cuốn ‘Mạnh Tử’ này sao?”

Tạ Chinh không giải thích gì nhiều, chỉ nói: “Bản gốc Thất Hiền trong kho sách của ta, sau khi về cứ việc tự lấy.”

Công Tôn Ngân lập tức hết gào thét, quạt xếp trong tay mở ra, trưng ra bộ mặt gấu trúc cười híp mắt phe phẩy quạt xu nịnh: “Chia sẻ nỗi lo với Hầu gia, vốn là bổn phận của mưu thần mà.”

Tạ Chinh dường như đã sớm biết bản tính của hắn ta, đối với mức độ trở mặt này chẳng thấy ngạc nhiên chút nào, bắt đầu dặn dò chính sự: “Sùng Châu đang bị hai vạn quân Kế Châu do Đường Chiêu Nghĩa dẫn đầu bao vây, lương thảo không chuyển ra được, đám phản tặc dưới núi đã tấn công núi suốt bao nhiêu ngày qua, lương thảo cạn kiệt, sớm đã mệt mỏi rã rời, đã đến lúc quét sạch một mẻ rồi.”

Quân Yến Châu trên núi những ngày qua đang tĩnh dưỡng khôi phục nguyên khí, còn quân Sùng Châu dưới núi từ hai ngày trước đã bắt đầu phải đào rễ cỏ gặm vỏ cây.

Lương thảo bị đốt, đặt ra trước mắt quân Sùng Châu ba sự lựa chọn: một là về Sùng Châu, hai là tiêu diệt quân Yến Châu trên núi, ba là không đánh mà chạy để bảo toàn thực lực.

Sự lựa chọn thứ nhất là về Sùng Châu, có hai vạn quân Kế Châu canh giữ ngoài thành, đám phản tặc dưới núi nếu không tróc một lớp da thì đừng hòng vào được thành Sùng Châu. Cho dù có đánh về được Sùng Châu, sau này đợi quân chủ lực của Yến Châu và Kế Châu khép vòng vây Sùng Châu, thì cũng chỉ có con đường chết.

Trường Tín Vương mưu sâu kế hiểm, ngày đó chỉ rút về một nửa binh mã, có lẽ chính là dự liệu được sẽ có cục diện ngày hôm nay, một nửa quân Sùng Châu dưới núi chính là con đường sống mà ông ta để lại cho Sùng Châu.

Kế Châu đã được cố thủ, Hạ Kính Nguyên đang điều đại quân tiến về Sùng Châu, nếu Sùng Châu không giữ được, quân Sùng Châu dưới chân núi Nhất Tuyến Hiệp chỉ cần phá vây chạy thoát, tìm một thành trì ổn định để dừng chân thì lại có thể Đông sơn tái khởi.

Mà người thống lĩnh đội quân đó, chính là tâm phúc đại tướng Thạch Việt của Trường Tín Vương.

Ngày đó để đốt lương thảo của quân Sùng Châu, Tạ Chinh đã cố ý dùng Tùy Nguyên Thanh làm mồi nhử, kìm chân phần lớn binh lực của phản tặc, cuối cùng Thạch Việt dùng mạng người chất thành núi ở cửa núi, tuy cứu được Tùy Nguyên Thanh nhưng cũng tổn thất không ít binh lực, cộng thêm lương thảo bị đốt, quả thực họa vô đơn chí.

Thạch Việt tưởng quân Yến Châu trên núi mất đi con bài con tin Tùy Nguyên Thanh, lại bị vây hãm nhiều ngày nên sớm đã không còn ý chí chiến đấu, sau khi biết lương thảo bị đốt, trong lúc tức giận đã hạ lệnh liên tục tấn công núi suốt nửa tháng, nào ngờ địa thế Nhất Tuyến Hiệp hiểm trở, lại đắp thêm không ít binh lực vào đó.

Đội viện binh của hai châu Yến, Kế lảng vảng dưới núi lại là kỵ binh, cứ quần thảo mãi trong rừng núi, thần long thấy đầu không thấy đuôi, ngay cả khi chạm trán với quân Sùng Châu, đội kỵ binh đó đánh thắng được thì đánh, đánh không lại thì chạy, bộ binh hai chân không sao đuổi kịp kỵ binh bốn chân, khiến các tướng lĩnh Sùng Châu tức đến nghiến răng nghiến lợi.

Nay dưới núi lương thảo đã cạn, phòng thủ của quân Yến Châu trên núi vẫn kiên cố như thùng sắt, Thạch Việt cũng nhận ra mình cuối cùng không thể vây chết Vũ An Hầu trên núi này để lập kỳ công đương thời, nên đã nhanh chóng điều chỉnh kế hoạch tác chiến, hành quân trong đêm, bí mật rút đi một phần binh mã trước.

Mạnh mẽ tấn công không có kết quả, kế sách lúc này, đương nhiên vẫn là bảo toàn thực lực làm đầu.

Trên núi bỗng chốc rơi vào bầu không khí chuẩn bị tác chiến căng thẳng, Phàn Trường Ngọc ở doanh Thương bệnh và doanh Hỏa đầu đều nghe thấy đủ mọi lời bàn tán về trận đánh này.

Quân trú đóng đang liên tục được điều động đến các cửa núi, vừa ra khỏi lều lớn là có thể nhìn thấy quân kỳ đang tung bay khắp nơi trong doanh địa, dưới lá cờ là dòng người cuồn cuộn đổ về các trận địa đã định.

Tất cả thương binh chỉ cần còn cầm được đao đều phải trở về doanh của mình, Tạ Chinh đương nhiên cũng vậy.

Phàn Trường Ngọc chỉ cần nhìn trận thế này là biết trận chiến sắp tới vô cùng hung hiểm, nhưng vết thương trên người Ngôn Chính cứ hễ vận sức là lại đau nhói không thôi, e rằng ngay cả binh khí cũng chẳng cầm nổi, thế này mà ra trận chẳng phải là đi nộp mạng sao?

Nàng nghĩ đến vết thương sâu hoắm trên người Ngôn Chính, trong lòng thấy lo lắng không yên.