Trúc Mã Đẩy Ta Cho Vị Hoàng Tử Điên
Chương 10:
Ta lấy dây thừng ra, bảo thị vệ trói hắn vào cây cột.
Thẩm Tri Hành không thể tin nổi: “Nàng muốn trói ta ư?”
Ta giải thích: “Loạn quân mà bắt được ngươi, sẽ nói Thẩm gia cấu kết với Đông cung; nhốt ngươi ở đây ngược lại còn có thể giữ được tính mạng.”
Hắn nhìn ta chăm chú rất lâu: “Không ngờ nàng vẫn còn đang tính toán đường đi nước bước cho Thẩm gia.”
Ta lắc đầu: “Ta chỉ không muốn Thẩm phu nhân vì sự lỗ mãng của ngươi mà mất mạng.”
Ngoài viện tiếng chém giết đã kề cận, ta xách cung chuẩn bị rời đi, hắn lại gọi giật ta trở lại.
Hắn nói: “Lời trong thư phòng năm đó, ta hối hận rồi.”
Ta dừng lại một thoáng, quay đầu đáp: “Hối hận là chuyện của ngươi, giữ gìn Đông cung là chuyện của ta.”
Đến khi mũi tên lửa cuối cùng bị ta bắn rơi, từ đằng xa cuối cùng cũng vang lên tiếng kèn hiệu của thân vệ Thái tử.
Tiêu Thừa Quyết cưỡi ngựa xông vào, áo giáp toàn là máu, ánh mắt đầu tiên chính là tìm kiếm bóng dáng ta trong đám đông.
Ta vẫy tay với y: “A Quyết, ta giữ vững được rồi, chàng không hề cưới nhầm người đâu!”
Y xoay người ôm chầm lấy ta: “Cho tới bây giờ… chưa từng nhầm.”
—
Sau khi binh biến được dẹp yên, Thẩm Tri Hành vì tội tự tiện xông vào Đông cung nên bị đem ra hỏi tội, nhưng do quả thực có hành động cứu người và có ta làm chứng, nên hắn chỉ bị giáng chức thành dân.
Ngày hắn rời khỏi Khâm Thiên Giám, không mang theo vàng bạc, chỉ ôm đi cây thước đồng đã gắn bó với mình nhiều năm cùng một cuốn tinh đồ cũ.
Thẩm phu nhân nhận được dược liệu do Đông cung gửi tới, biết rằng ta không hề ôm hận trong lòng, bệnh tình cũng ngày một chuyển biến tốt hơn.
Trước khi Thẩm gia rời khỏi kinh thành, bà đã phái người đưa tới chiếc áo cưới đè ở đáy rương, ta không tháo ra xem.
Ta cất bọc hành lý vào kho, để bộ áo cưới ấy ghi nhớ thay ta khoảng thời gian vô ích suốt chín năm trời.
Ngày đại hôn, kinh thành thắp đèn sáng rực suốt một đêm, sau khi nghi lễ hoàn thành Tiêu Thừa Quyết vẫn kéo ta trèo lên quan tinh đài của Đông cung.
Y khép gọn áo choàng cho ta, chỉ tay về phía bảy ngôi sao phương bắc, tựa như thiếu niên của mười một năm về trước.
Cứ mỗi độ thất tịch về sau, bọn ta đều thả một ngọn đèn nhỏ trên đài quan tinh, không hỏi hồng loan, chỉ hỏi đối phương có bình an mạnh khỏe hay không.
Mùa xuân năm thứ hai, Thẩm Tri Hành một mình trở về kinh thành, dừng chân nửa ngày ngoài Khâm Thiên Giám cũ.
Nơi đó đã đổi giám chính mới, hỗn thiên nghi cũng được chỉnh sửa lại, chẳng còn ai dùng một câu ý trời để níu kéo cuộc đời của người khác nữa.
Nghiên Thanh sau đó kể cho ta nghe, Thẩm Tri Hành thuê một tiểu viện ở ngoại thành, vẫn tiếp tục xem tinh tượng vào mỗi đêm.
Hắn tính mưa gió, tính tiết khí, tính thu hoạch năm tới, nhưng tuyệt đối không bao giờ xem nhân duyên cho bất kỳ ai nữa.
Có một năm Thất Tịch, hắn nhân cớ đi ngang qua con phố dài Đông cung, từ xa nhìn thấy ánh đèn trên đài quan tinh.
Tiêu Thừa Quyết đang cài trâm cho ta, ta chê y vụng về, thế nhưng y nhất quyết không cho cung nhân giúp đỡ.
Ánh đèn khắp thành phản chiếu vào trong chậu đồng, sao hồng loan và sao Bắc Đẩu đồng thời rơi vào làn nước.
Thẩm Tri Hành từng cho rằng vị trí các vì sao là cố định, con người cũng nên mãi mãi đứng yên một chỗ ở chốn cũ.
Hắn dừng bước bên ngoài cửa cung rất lâu, cuối cùng cũng lật mở trang giấy năm đó trong cuốn tinh đồ cũ.
Mép trang giấy vẫn còn lưu lại lời phê do chính tay hắn viết: Hồng loan đồng độ, không nên chậm cưới.
Vực mực đã ngả màu vàng úa, hắn nhìn rất lâu, cuối cùng cũng xé rách trang giấy ấy.
Sáng tinh mơ hôm sau, bên bờ sông ngoài thành xuất hiện thêm một nhúm tro giấy, bị gió thổi bay về phía Tây Sơn.
Còn ta hoàn toàn chẳng hay biết gì, đang bị Tiêu Thừa Quyết kéo lại thử bộ quần áo mùa thu mới may.
Y vẫn sẽ ghen tuông vì ba chữ Thẩm Tri Hành, thế nhưng đã học được cách nói sự ghen tuông đó ra lời.
Ta cũng không còn dùng sự trêu chọc để né tránh nữa, sẵn lòng lặp đi lặp lại nói cho y biết, ta sẽ ở lại đây.
Khi Lục Cửu thành thân, mời bọn ta ngồi vị trí chủ tọa, Hà lão uống say bét nhè kể lại chuyện lấy miếng sắt năm xưa đến ba lần lận.
Tạ tiên sinh chê lão lải nhải phiền phức, nhưng lại tự tay viết chữ trăm năm hảo hợp cho đôi tân nhân.
Mảnh đất trồng rau ở Tây Sơn được để lại cho ông lão thủ lăng, hằng năm vẫn gieo trồng rau xanh và củ cải.
Thỉnh thoảng ta nhớ đến chiếc xe đẩy thủng mái kia, liền cảm thấy vô cùng may mắn vì vào giờ Thìn năm ấy bản thân đã không lùi bước.
Thẩm Tri Hành sau đó cũng rời khỏi kinh thành, đi về phương nam dạy trẻ nhỏ nhận biết các vì sao và tiết khí.
Trước lúc lên đường, hắn ngoảnh lại nhìn chòm Bắc Đẩu lần cuối cùng, chỉ buông lại một câu: “Lần này, chúc nàng năm tháng bình an.”
