Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 176: Ngoại Truyện Phần Trọng Sinh – Ngụy Nghiêm Trọng Sinh
Tuyết rơi dày tựa bông, tiếng gió gào rú nghe như quỷ khóc sói gào.
Ngụy Nghiêm nhắm mắt nằm trên đống cỏ khô, trong lòng thầm thấy nực cười, quả nhiên con người ta khi già đi thường hay hoài niệm, tiếng gió ngoài thiên lao này lại khiến hắn sinh ra ảo giác như đang ở tái bắc.
Hắn bị ông già nhà mình trói đến doanh trại Thích gia quân, cùng Tạ Lâm Sơn trấn thủ biên thùy phương Bắc, đó đã là chuyện của bao nhiêu năm về trước rồi.
Chỉ là, lúc đó quả thực rất tốt.
Thích lão tướng quân còn tại thế, Dung Âm chưa vào cung, Lâm Sơn và Thái tử cũng chưa bỏ mạng tại Cẩm Châu…
Một nửa cuộc đời khoái ý của hắn, đều nằm ở những ngày tháng đó.
Mí mắt nặng trĩu, Ngụy Nghiêm cứ thế để mặc bản thân chìm vào giấc ngủ trong tiếng gió tuyết gào thét từng đợt.
Trong cơn mơ màng, có người tiến lại gần, đắp thứ gì đó lên người hắn để chống chọi với cơn gió lạnh như muốn cắt da cắt thịt.
Ngụy Nghiêm thầm nghĩ lẽ nào là ngục tốt thiên lao?
Nhưng hắn là kẻ trọng tội, ngục tốt sẽ không dễ dàng thêm áo đắp chăn cho hắn, trừ phi là nhận được chỉ thị của Đào Thái phó hoặc Tạ Chinh?
Đang lúc suy nghĩ mông lung, người đắp áo cho hắn vẫn chưa rời đi mà ngập ngừng đưa tay ra, tựa như muốn chạm vào hắn., Ngụy Nghiêm thoang thoảng ngửi thấy một mùi hương tựa như hoa lan lại tựa như hoa sơn trà.
Sự cảnh giác nuôi dưỡng suốt bao năm như đi trên băng mỏng khiến hắn theo bản năng giơ tay chộp lấy bàn tay kia, đôi mắt phượng sắc lạnh đột ngột mở ra.
Thứ hắn nhìn thấy lại là người chỉ xuất hiện trong những giấc mộng đêm khuya.
Nữ tử vận chiếc áo bông trắng như hoa lê thêu sen nghìn cánh, vai gầy eo thon, mày ngài mắt biếc tựa như một bức tranh sơn thủy, bàn tay nàng vẫn bị hắn bóp chặt trong lòng bàn tay, gương mặt trắng ngần nửa phần hoảng hốt, nửa phần thẹn thùng vì bị hắn bắt quả tang, nàng cắn môi dưới nói: “Ta thấy Tam ca ngủ ở đây, nên mang cho huynh chiếc áo choàng…”
Ngụy Nghiêm có một người huynh trưởng chết yểu, phía trên còn một người thứ huynh, hắn xếp hàng thứ ba trong nhà.
Hai nhà Ngụy, Thích giao hảo, Thích Dung Âm từ nhỏ đã gọi hắn là Tam ca.
Hắn đờ đẫn nhìn nữ tử trước mắt hồi lâu mới cất tiếng: “Nàng đã bao năm không vào giấc mộng của ta, đêm nay biết ta đại hạn sắp đến, đặc biệt đến thăm ta sao?”
Thích Dung Âm nhíu nhíu mày, không kịp thẹn thùng, bàn tay bị Ngụy Nghiêm bóp lấy hơi dùng lực, lòng bàn tay ấm áp mịn màng áp lên trán hắn, lẩm bẩm: “Tam ca sao lại nói lời mê sảng vậy? Chẳng lẽ là nhiễm phong hàn sinh ra bệnh dịch rồi?”
Làn da chạm vào quả thực nóng rực, Thích Dung Âm lập tức biến sắc, gọi võ tỳ đang đứng đợi nơi góc tường thành: “Lãm Nguyệt, mau đi gọi quân y, Tam ca đã bị nhiễm phong hàn!”
Ngụy Nghiêm ngước mắt nhìn bầu trời đầy sao và lá cờ chữ “Thích” trên thành lầu được ánh lửa từ chậu than soi rõ, lúc này mới phát hiện mình đang tựa vào tường thành mà ngủ, xung quanh có không ít tướng sĩ ôm đao thương ngồi ngủ, máu trên mặt và trên người vẫn chưa khô, rõ ràng là vừa trải qua một trận ác chiến.
Hắn chỉ cảm thấy giấc mộng này quá đỗi chân thực, y hệt những gì hắn đã trải qua ở đất Bắc năm nào.
Thích Dung Âm vừa định đứng dậy, lại bị Ngụy Nghiêm kéo tay lại.
Thích Dung Âm khó hiểu nhìn người có vẻ không bình thường từ lúc tỉnh dậy, thắc mắc: “Tam ca?”
Ngụy Nghiêm chậm rãi nói: “Đừng đi, để ta nhìn nàng thêm chút nữa. Mười tám năm rồi, mỗi lần nàng vào mộng đều chưa từng trò chuyện hẳn hoi với ta…”
“Tam ca đang nói gì vậy? Mười tám năm gì cơ?” Thích Dung Âm càng nghe càng lộ vẻ nghi hoặc, nhưng vẫn trấn an: “Ta không đi, ta đi lấy nước về lau mặt cho huynh.”
Vì duyên cớ phong hàn, đầu óc Ngụy Nghiêm lúc này quả thực đau nhức từng cơn, hắn đưa bàn tay còn lại day day thái dương.
Thích Dung Âm thấy vậy liền rút bàn tay đang bị hắn nắm chặt, bước xuống thành lầu đi lấy nước.
Ánh mắt Ngụy Nghiêm theo bản năng dán chặt lấy nàng, sợ rằng nàng sẽ biến mất như thế.
Một vị tướng quân bên cạnh đang giả vờ ngủ, mặt đầy vết máu và bụi bẩn, mở mắt cười nói: “Ngụy Trung lang chắc là sắp có hỷ sự rồi nhỉ?”
Ngụy Nghiêm nhớ khi mình còn ở doanh trại Thích gia từng giữ chức Trung lang tướng, đồng liêu trong quân đa phần đều gọi hắn là “Ngụy Trung lang”.
Người trước mặt này trông rất lạ, hắn nheo mắt nhìn kỹ một hồi mới nhận ra đối phương chính là Đô hộ sứ Thiểm Tây sau này.
Lúc ở doanh trại Thích gia, hắn quả thực có một đoạn tình nghĩa đồng liêu với người này, chỉ là sau đó ít qua lại.
Thật là quái lạ, hắn mộng thấy Thích Dung Âm thì thôi đi, sao lại mộng thấy cả người này?
Trong lúc phảng phất, Ngụy Nghiêm nhận ra giấc mộng đêm nay không giống với trước kia.
Hắn chống vào chân tường muốn đứng dậy, trên tay truyền đến một cơn đau nhói, cúi đầu nhìn kỹ, hắn mới thấy lòng bàn tay quấn một vòng băng gạc thấm máu.
Lúc trước vừa mở mắt đã thấy Thích Dung Âm nên tâm trí hắn bị chiếm trọn, ngay cả cái đau trên tay cũng không nhận ra, giờ khắc này dùng lực nắm chặt lòng bàn tay, cơn đau li ti như kim châm lại truyền đến, Ngụy Nghiêm cuối cùng cũng ý thức được có điều gì đó không đúng.
Cảm giác đau trong mộng cũng chân thực đến thế này sao?
Thích Dung Âm bê chậu nước, dẫn quân y lên thành lầu, dịu dàng nói: “Ngụy Tam ca bị phát sốt cao, hiện giờ phụ thân và huynh trưởng truy kích quân địch chưa về, Tam ca lúc này vạn lần không thể đổ bệnh, phiền quân y xem giúp huynh ấy.”
Ngụy Nghiêm nghe đến đây không khỏi chau mày, Thích lão tướng quân và Thiếu tướng quân đều truy kích địch chưa về?
Trong ký ức của hắn, chỉ có lần Thích lão tướng quân nhận tin quân tình sai lệch kia, mấy phụ tử bọn họ mới cùng nhau đi truy kích địch, và cũng chính lần đó, phụ tử Thích gia đều bỏ mạng nơi chiến trường.
Lúc quân y bắt mạch cho Ngụy Nghiêm, hắn vẫn còn chìm đắm trong dòng suy nghĩ hỗn độn chưa kịp hoàn hồn.
Sau khi bắt mạch xong, quân y lấy ra một cây châm bạc từ bao châm mang theo người: “Thuốc trị thương hàn trong thành đã cạn kiệt từ lâu, Trung lang sốt cao không lui, lão hủ cũng chỉ có thể dùng cách trích máu huyệt Thương Dương để giảm bớt cho Trung lang phần nào.”
Châm bạc đâm vào đầu ngón tay, cái đau ấy càng thêm rõ rệt.
Chân thực không giống như đang nằm mộng!
Một suy đoán hình thành trong lòng Ngụy Nghiêm, tựa như một thanh lợi kiếm chẻ tan lớp sương mù dày đặc trong tâm trí, một luồng cuồng hỷ dâng lên trong lòng hắn.
Lúc quân y rút ngân châm ra, hắn không màng tới cái đau nhói ở đầu ngón tay, dùng sức nắm chặt lấy tay Thích Dung Âm, trong đôi mắt vốn dĩ trầm mặc lạnh lùng ẩn hiện ánh lệ: “Dung Âm, Dung Âm… thực sự là nàng…”
Lực đạo trên tay hắn quá lớn, nắm đến mức xương tay Thích Dung Âm cũng hơi đau.
Đôi lông mày thanh tú tựa núi xa của nàng khẽ cau lại: “Đương nhiên là ta rồi, Tam ca bị làm sao vậy? Chỉ chợp mắt trên thành lầu một lát, tỉnh dậy toàn nói lời mê sảng…”
Thích gia là trọng thần trấn thủ biên cương, lần này Bắc Quyết xâm phạm, Thích Dung Âm đặc biệt dẫn theo phủ y đến cổng thành cứu chữa thương binh.
Ngụy Nghiêm cười khàn, vừa chật vật vừa vui sướng.
Thích Dung Âm và các tướng sĩ trên thành lầu nhìn nhau đầy ngơ ngác.
Nhưng Ngụy Nghiêm rất nhanh đã chống vào tường thành đứng dậy, nói với Thích Dung Âm: “Bây giờ ta không thể giải thích quá nhiều với nàng, mau chóng điểm ba ngàn tinh binh theo ta xuất thành!”
Nếu hắn thực sự trọng sinh, thì đây chính là trận đánh mà phụ tử Thích lão tướng quân thấy vương tử Bắc Quyết thất bại bỏ trốn liền đuổi theo địch, muốn bắt sống hắn ta nhưng lại trúng mai phục chết tại đại mạc!
Thích Dung Âm đi theo phụ huynh ra nơi quan ngoại, đối với quân vụ cũng rất nhạy bén, lập tức nhận ra điều bất thường: “Phụ huynh ta gặp phải nguy hiểm sao?”
Ngụy Nghiêm nén cơn đau đầu do ký ức hỗn độn mang lại, không trả lời mà hỏi ngược lại: “Họ xuất thành bao lâu rồi?”
Thích Dung Âm đáp: “Đã được một canh giờ rồi.”
Sắc mặt Ngụy Nghiêm trầm xuống, chuyến đi này không biết có còn cứu vãn được cục diện phụ tử Thích gia tử trận hay không, nhưng ông trời đã cho hắn làm lại một lần, dù thế nào cũng phải dốc toàn lực đánh cược một phen, hắn trầm giọng ra lệnh: “Điểm binh, chuẩn bị ngựa!”
Trái tim Thích Dung Âm đập loạn liên hồi, trong cõi vô hình nàng cảm thấy có gì đó không đúng.
Trên chiến trường, đôi khi chỉ một khắc, nửa khắc tiên cơ cũng có thể quyết định thắng bại của một trận đánh.
Chuyện liên quan đến an nguy của phụ huynh, nàng cũng không kịp truy hỏi nhiều, vội bảo phó tướng ở lại giữ thành đi điểm binh tốt còn có thể chiến đấu.
Ngặt nỗi các tướng sĩ trong thành vừa trải qua một trận ác chiến, tinh nhuệ còn lại đều đã theo phụ tử Thích gia đi truy kích địch, cộng cả những thương binh gượng gạo lắm mới ra trận được thì cũng chỉ gom đủ ba ngàn nhân mã, trong đó phần lớn tướng sĩ đều đã mệt mỏi rã rời.
Cuộc hành quân đường dài này, dù có kịp cứu viện phụ tử Thích gia, nhưng đối mặt với lũ người Bắc Quyết hung ác như loài sói, liệu có phải là dẫn dê vào miệng cọp hay không vẫn còn khó nói.
Nhưng Ngụy Nghiêm nhớ ở kiếp trước, Tạ Lâm Sơn lúc này đã nhận được tin Yến Châu bị vây khốn, đang dẫn theo thiết kỵ Tạ gia ở Huy Châu trên đường tới viện trợ.
Kiếp trước, chính mình vì trận phong hàn này mà ngã bệnh, đợi đến khi Tạ Lâm Sơn dẫn viện quân tới, biết được trận chiến Yến Châu này đã thắng, phụ tử lão tướng quân đi đuổi theo bại khấu, bắt sống vương tử Bắc Quyết, đợi mãi không thấy Thích lão tướng quân trở về mới đi thăm dò, tìm theo dấu vết quân đội đi đường vòng, đi một vòng lớn mới nhìn thấy lá cờ chữ “Thích” nhuộm máu và xác chết khắp nơi tại dốc Mã Vương.
Địa điểm Bắc Quyết phục kích chính là ở dốc Mã Vương, chuyến này hắn hành quân toàn tốc, có thể tiết kiệm được không ít thời gian tìm dấu chân ngựa đi vòng quanh, chỉ cần cầm cự thêm được một lúc, lại sai trinh sát đi tìm quân của Tạ Lâm Sơn, một khi thiết kỵ Tạ gia đến, âm mưu này của người Bắc Quyết sẽ không còn phần thắng.
Lúc Ngụy Nghiêm thúc ngựa ra khỏi thành liền gọi tâm phúc của mình lại, bảo hắn ta phi ngựa thật nhanh về phía con đường tất yếu từ Huy Châu đến Yến Châu, nếu gặp được Tạ Lâm Sơn thì bảo y đến dốc Mã Vương.
Tâm phúc nghe lệnh, hỏi một câu không đầu không đuôi: “Chủ tử, sao ngài biết Tạ tướng quân sẽ dẫn viện quân tới?”
Ngụy Nghiêm quét qua một ánh mắt lạnh lẽo sắc lẹm, tâm phúc chỉ cảm thấy sống lưng lạnh toát, không dám hỏi thêm, vội vàng ôm quyền: “Thuộc hạ đi đưa tin ngay!” Nói xong liền vỗ mông ngựa phi về phía con đường chủ yếu đi Huy Châu.
Ngụy Nghiêm ghì dây cương, thoáng chốc thất thần, phải rồi, trước thảm án Cẩm Châu, những người bên cạnh hắn vẫn còn dám bộp chộp nói chuyện với hắn như vậy.
Sau này, những người đi theo hắn đều đã chết sạch, người được chọn đến bên cạnh hắn không ai dám vọng ngôn nửa lời.
Nghĩ nhiều lại thấy đắng chát trong lòng, Ngụy Nghiêm thu lại tâm thần, đang định ra lệnh đại quân xuất phát thì lại nghe thấy một tiếng gọi gấp gáp từ phía cổng thành: “Tam ca!”
Ngụy Nghiêm ghì chiến mã quay đầu, thấy Thích Dung Âm khoác áo choàng lông cáo tuyết, đạp lên lớp tuyết bùn chạy nhanh về phía hắn.
Vì chạy gấp, hai bên gò má nàng bị gió thổi có chút ửng đỏ.
Ngụy Nghiêm thúc cương, quay đầu ngựa lao thẳng về phía Thích Dung Âm, chiến mã bị hắn ghì cương dừng lại cách nàng năm bước, vó trước giơ cao, làm rơi rụng không ít vụn tuyết.
Thích Dung Âm đưa một chiếc bùa bình an thắt dây kết cho hắn: “Tam ca, huynh mang theo bùa bình an này, nhất định phải bình an trở về!”
Nàng không biết tại sao Ngụy Nghiêm đột nhiên vội vã điều binh ra khỏi thành, nhưng nàng có thể cảm nhận được chuyến đi này của hắn, định sẵn là nguy hiểm.
Lúc Ngụy Nghiêm cúi người đón lấy bùa bình an, hắn nắm chặt luôn cả bàn tay đang bị lạnh đến đỏ bừng của Thích Dung Âm, trên mặt hắn vẫn còn vết máu từ trận chiến trước, hắn nhìn nàng bằng một ánh mắt thâm trầm đầy đau đớn và bi thương mà Thích Dung Âm không thể hiểu nổi: “Dung Âm, đợi sau khi đánh xong trận này, chúng ta thành thân có được không?”
Thiếu nữ đương tuổi trăng mười sáu ngẩn người tại chỗ, một lát sau mới giương khóe môi, nói: “Được.”
Vết đỏ vì lạnh trên mặt nàng đã che đi vẻ thẹn thùng.
Ngụy Nghiêm lại siết chặt tay nàng một cái mới cầm lấy bùa bình an, quay đầu ngựa hô lớn: “Hướng dốc Mã Vương, hành quân toàn tốc!”
Võ tỳ che ô giấy dầu chắn những bông tuyết rơi dày như lông ngỗng cho Thích Dung Âm, khuyên: “Tiểu thư, vào thành trước đi ạ.”
Bàn tay trắng nõn của Thích Dung Âm áp lên vị trí trái tim mình, nhìn bóng dáng Ngụy Nghiêm dẫn theo ba ngàn tàn quân trong thành đi xa, đôi mày thoáng hiện vẻ lo âu: “Lãm Nguyệt, không biết tại sao từ lúc Tam ca nói muốn điểm binh ra khỏi thành, tim ta cứ đập loạn không yên. Tam ca tỉnh lại cứ lạ lùng sao ấy, huynh ấy chắc chắn đã giấu ta điều gì…”
–
Đại quân đi đến gần dốc Mã Vương, đã nhìn thấy xác chết khắp nơi.
Tướng sĩ đi cùng nhìn thấy cảnh tượng thảm khốc sau một trận ác chiến nữa, đều ngây dại.
Đại quân truy kích địch của họ bị phục kích sao?
Ngụy Nghiêm nhìn thấy cảnh này, máu trong người cũng lạnh hẳn đi, chỉ là lòng dạ rèn luyện từ vị trí cao suốt mười mấy năm khiến hắn lúc này mặt không đổi sắc, chỉ trầm giọng ra lệnh: “Tìm xem soái kỳ ở đâu!”
Người dưới trướng vội vã đi tìm soái kỳ giữa bãi xác chết trên chiến trường.
Một lát sau quay về phục mệnh: “Trung lang, soái kỳ Thích gia không có ở đây! Cũng không tìm thấy đám người Thích đại tướng quân!”
Ngụy Nghiêm chỉ cảm thấy tảng đá lớn đè nặng trong lòng nhẹ đi không ít — soái kỳ không có ở đây, phụ tử Thích gia cũng không có ở đây, chứng tỏ họ rất có khả năng còn sống.
Chỉ là sau khi đột phá vòng vây ra ngoài, lại bị người Bắc Quyết cắn riết.
Hắn quát lớn: “Tất cả trinh sát xuất động, tìm dấu chân ngựa rút lui quanh chiến trường.”
Trinh sát trong quân thúc ngựa chạy tứ phía thăm dò.
Rất nhanh có một trinh sát chạy gấp trở về: “Trung lang, phía bên kia núi có dấu chân ngựa hỗn loạn!”
Ngụy Nghiêm thúc mạnh vào bụng ngựa, gương mặt lạnh lùng có chút dữ tợn: “Đuổi theo!”
Chạy qua một đoạn dốc thoải, loáng thoáng nghe thấy tiếng giết chóc rung trời từ phía bên kia núi truyền lại.
Đại quân tăng tốc vượt qua sườn núi, Ngụy Nghiêm đứng trên dốc cao nhìn xuống phía dưới, thấy Thích gia quân đang khổ sở chống đỡ dưới vòng vây đang dần thu hẹp của người Bắc Quyết.
Khi ra khỏi thành là vạn đại quân, lúc này nhìn lại, thế mà chỉ còn mấy trăm người.
Cờ hiệu chữ “Thích” được bảo vệ ở chính giữa vẫn sừng sững không đổ, nhưng người Bắc Quyết vây quanh họ chạy ngựa theo trận Thái Cực, trong lúc chạy quanh vòng vây, người mượn đà ngựa chém giết từng lớp từng lớp tướng sĩ bảo vệ ngoài cùng.
Thích gia quân bị dồn đến mức này, sức cùng lực kiệt, lại biết không còn đường cầu sinh, làm gì còn sức đánh trả, gần như là nằm trên thớt cho người ta xẻ thịt.
Phó tướng đi cùng sốt ruột như lửa đốt, nói với Ngụy Nghiêm: “Trung lang, chúng ta mau đi cứu đám người Đại tướng quân thôi!”
Ngụy Nghiêm cắn chặt hàm, nhìn chòng chọc vào quân đội Bắc Quyết đang không ngừng thu hẹp vòng vây phía dưới, quát: “Điều chỉnh quân trận, nhất định phải dùng ba ngàn người này chiếm trọn đỉnh núi phía trước cho ta, phía sau rừng cây bụi cũng cắm hết quân kỳ lên, mang hết trống trận ra đây.”
Hắn mang tới là ba ngàn tàn quân, cứ thế xông xuống chẳng qua là tự tìm đường chết.
Chỉ có cách tạo thanh thế, dọa dẫm binh lính Bắc Quyết trước mới có thêm vài phần thắng.
Phó tướng nghe vậy, vội vàng đi xuống bố trí.
Thấy trống trận đã dựng lên, Ngụy Nghiêm lại ra lệnh: “Thổi tù và.”
Tiểu tốt đeo tù và đồng bên hông cầm lên, hít một hơi thật sâu: “U u — u u —”
Tiếng tù và dăng dẵng lại trầm hùng, nhất thời vang vọng khắp chiến trường phía dưới.
Cũng may chỗ khe núi này có địa thế hình loa, tiếng tù và bị gió bấc cuốn đi vang vọng bốn phương tám hướng.
Quân đội Bắc Quyết đang định thu hẹp vòng vây cũng chậm lại, quay đầu nhìn lên sườn dốc.
“Nổi trống!” Ngụy Nghiêm lại hô một tiếng trầm đục.
Tiểu tốt tay cầm dùi trống đứng trước chiếc trống lớn cao bằng đầu người lập tức vung dùi nện xuống mặt trống.
“Tùng —”
“Tùng tùng —”
Tiếng trống dồn dập tựa như sấm sét rụng xuống đất.
Quân trận Bắc Quyết phía dưới rõ ràng có sự xao động, bởi lẽ thoạt nhìn qua cả sườn dốc đều là viện quân Đại Dận, phía sau rừng cây bụi cũng cờ xí rợp trời, không biết là bao nhiêu nhân mã kéo đến, người Bắc Quyết không khỏi bị chấn trụ.
Mọi thanh thế đã làm đủ, phần còn lại chỉ có thể là tử chiến.
Ngụy Nghiêm thúc mạnh vào bụng ngựa, tiên phong xông xuống núi, tay cầm một thanh yển nguyệt trường đao bằng tinh sắt chém tan gió lạnh tái bắc, gầm vang: “Giết —”
Ba ngàn binh tốt phía sau hắn theo sát, từ trên dốc Mã Vương thúc ngựa lao xuống.
Cuộc xung phong của ba ngàn người không tạo ra được cảnh tượng vạn ngựa phi nước đại làm rung chuyển đất trời, may mà có tiếng trống trận rầm trời che chở, quả thật cũng đã dọa cho không ít binh lính Bắc Quyết vỡ mật.
Có được tiên cơ này, Ngụy Nghiêm nhanh chóng xé toạc một lỗ hổng trong vòng vây của người Bắc Quyết.
Ngặt nỗi thương tổn mà ba ngàn binh mã đã kiệt sức có thể tạo ra thực sự có hạn.
Dù phô trương thanh thế đánh cho Bắc Quyết không kịp trở tay, nhưng sau khi tướng lĩnh Bắc Quyết phát hiện nhân mã của họ không nhiều như những gì họ phô trương, liền nhanh chóng điều chỉnh quân trận, để binh lính bị đánh bại trước đó lui ra sau, cánh quân tả hữu hai bên bao vây từ hai phía, ý đồ vây chết đội viện quân đột ngột xuất hiện này trong vòng vây của họ.
Phó tướng nhận ra mục đích của người Bắc Quyết, trong lúc đang gian khổ giết địch liền nói với Ngụy Nghiêm: “Trung lang, bọn mọi rợ này muốn chặn chết chúng ta ở bên trong!”
Phía xa trong Thích gia quân bị quân Bắc Quyết vây chặt cũng có người hét lớn: “Ngụy Trung lang, Đại tướng quân có lệnh, bảo ngài dẫn viện quân rút lui!”
Ngụy Nghiêm vung đao ngang chém chết một tiểu tướng Bắc Quyết cản đường, đáy mắt ẩn hiện tia máu, tiếp tục xông pha liều chết về phía trước.
Phó tướng nghiến răng nói với Ngụy Nghiêm: “Ngụy Trung lang, rút thôi, đừng hành động theo cảm tính! Hãy giữ lấy tính mạng những bính sĩ tốt này, ngày sau lo gì không thể bắt Bắc Quyết nợ máu phải trả bằng máu? Đợi lũ mọi rợ bịt kín lỗ hổng, chúng ta chính là cho không tính mạng!”
Ngụy Nghiêm đã giết đến đỏ mắt, quay đầu gào lên với phó tướng: “Có viện quân! Chống đỡ thêm một khắc nữa!”
Phó tướng biết hai nhà Thích, Ngụy là thế giao, quan hệ thâm sâu, chỉ nghĩ hắn vì muốn cứu Thích lão tướng quân mới nói dối, đang sốt ruột muốn mắng người.
Mặt đất dưới vó ngựa bắt đầu rung chuyển, đá vụn khắp núi nghiêng ngả, lần này thực sự là đất rung núi chuyển.
Trong tiếng trống trầm đục, phía sau truyền đến tiếng gào thét vang dội: “Giết —”
Chỉ riêng tiếng gầm đó đã làm màng nhĩ người ta đau nhức.
Phó tướng kinh hoàng quay đầu nhìn lại, thấy một đạo kỵ binh thiết giáp đen kịt hùng hậu, tựa như dòng lũ tràn qua bờ, từ dốc Mã Vương lao thẳng xuống mà đê.
Nơi tiếp giáp giữa trời và tuyết, một lá cờ chữ “Tạ” đón gió tung bay cùng dòng lũ đen tiến lại gần.
Vị tướng quân trẻ tuổi cưỡi ngựa trắng yên bạc dẫn đầu, mặt tựa thần tiên, sắc như tu la, chiếc áo choàng đỏ rực phía sau bay phấp phới trong gió tuyết, làm chấn động lòng người.
Người Bắc Quyết phía dưới vẫn đang định thu hẹp vòng vây nghe thấy tiếng giết chóc gào thét phía sau, quay đầu nhìn thấy cảnh này thì kinh hãi đến gan mật đều run rẩy, chưa kịp điều chỉnh trận hình nghênh chiến đã bị thiết kỵ Tạ gia như một mũi tên sắc bén đâm xuyên từ trên núi xuống, hoàn toàn xé tan quân trận.
Thích gia quân bị vây giữa trận địch, đã mệt mỏi rệu rã, thấy cờ chữ “Tạ” cũng suýt nữa mừng phát khóc: “Thiết kỵ Tạ gia! Là Tạ tướng quân dẫn viện quân tới rồi!”
Không biết là ai dẫn đầu thét dài một tiếng, dù đôi tay đã vì cầm đao chiến đấu quá lâu mà mỏi nhừ đến tê dại, nhưng vẫn giơ đao kiếm lên tiếp tục chém giết với người Bắc Quyết, chậm chạp di chuyển về phía viện quân.
Ngụy Nghiêm nhìn thấy quân kỳ Tạ gia, tảng đá đè nặng trong lòng cuối cùng cũng rơi xuống, cơ thể sốt cao lại qua mấy trận đại chiến đã kiệt sức không chịu nổi, khiến cả người hắn có vài phần mơ màng.
Phó tướng kinh ngạc hỏi hắn: “Trung lang, sao ngài biết viện quân của Tạ tướng quân ở phía sau?”
Ngụy Nghiêm không đáp, cầm đao tiếp tục chém giết về phía vòng vây của Thích gia quân.
Đợi đến khi hai quân gặp nhau, hắn liếc mắt một cái đã thấy Thích lão tướng quân được một đám thân binh bảo vệ ở giữa, chỉ có điều Thích lão tướng quân đang ôm lấy hông bụng, mu bàn tay đã bị máu tươi nhuộm đỏ.
Rõ ràng là bị trọng thương.
Tim Ngụy Nghiêm thắt lại, thúc ngựa tiến lên gọi: “Đại tướng quân!”
Thích lão tướng quân râu tóc bạc phơ, tướng mạo trông rất oai phong lẫm liệt, nhưng lúc này môi đã tái nhợt, phải có trưởng tử dìu mới đứng vững được.
Thấy người đến là Ngụy Nghiêm, thần sắc ông hơi giãn ra một chút, nói: “Ngươi và Lâm Sơn đến rồi.”
Ngụy Nghiêm nhảy xuống ngựa, nhìn vết thương máu chảy không ngừng nơi bụng của Thích lão tướng quân, không kìm được vẻ đau xót trên mặt, khiến hốc mắt hắn cũng cay cay: “Ngài… bị thương thế nào?”
Đối với hắn, Thích lão tướng quân, vừa là thầy cũng vừa là cha.
Kiếp trước, chính vì lời nói của hắn gây họa, khiến lão Hoàng đế vốn đã kiêng dè Thích gia nảy sinh sát tâm, vì muốn chặt đứt vây cánh Thái tử nên đã xuống tay với Thích gia trước.
Thật đáng hận, mãi đến khi người Bắc Quyết lại đánh Cẩm Châu, lão Hoàng đế đã thu hồi binh quyền Thích gia bất đắc dĩ phải giao binh quyền cho Tạ Lâm Sơn, họ mới dần tra ra cái chết của phụ tử Thích gia, cũng là từ tay lão Hoàng đế.
Trọng sinh một lần, vẫn không cứu được Thích tướng quân sao?
Trưởng tử Thích gia là Thích Hiến Hồn dìu Thích lão tướng quân, hai mắt đỏ sọc: “Tên cẩu tặc Từ Sách đó, mối hận một kiếm ông ta đâm phụ thân này, dù ông ta có ngã ngựa bị dẫm chết dưới loạn vó, cũng khó tiêu được hận thù trong lòng ta!”
Ngụy Nghiêm đột ngột ngước mắt: “Là Từ Sách đâm lão tướng quân?”
Thích Hiến Hồn nghiến răng nghiến lợi: “Tên phản đồ đó đã đánh lén phụ thân!”
Hắn ta nhìn sắc mặt Thích lão tướng quân dần xám xịt vì mất máu quá nhiều, tức đến mức môi run rẩy, quay mặt đi chỗ khác mới nén được lệ trong mắt.
Ngụy Nghiêm kiếp trước chỉ tra ra Từ Sách của Thích gia quân nhận chỉ thị của lão Hoàng đế, báo cáo quân tình giả, trong khi biết rõ người Bắc Quyết có mai phục vẫn dụ phụ tử Thích gia đi truy kích địch, nhưng lại không ngờ vết thương chí mạng trên người Thích lão tướng quân cũng là do Từ Sách ban tặng.
Cơn giận cuộn trào cùng dòng máu nóng khắp cơ thể, hắn cố gắng trấn tĩnh bản thân, nói: “Về thành Yến Châu trước, vết thương của Đại tướng quân cần được chữa trị ngay lập tức.”
Người Bắc Quyết cũng biết dừng lại đúng lúc, thấy viện quân Đại Dận đã đến, thiết kỵ Tạ gia dũng mãnh vô song, thấy không còn hy vọng nhốt chết Thích gia quân, lập tức khua chiêng thu quân.
–
Lúc Tạ Lâm Sơn khoác bộ giáp đẫm máu đi tới, thấy Thích lão tướng quân sắc mặt như màu đất, thần sắc cũng rúng động: “Đại tướng quân bị thương sao?”
Ngụy Nghiêm ngước mắt nhìn vị tướng quân trẻ tuổi khôi ngô tuấn tú kia, đôi mắt bị gió tuyết thổi cho khô khốc lộ ra vài phần đỏ hồng, hắn gọi một tiếng: “Lâm Sơn?”
Mười tám năm trăng lạnh nắng ấm thiêu đốt tuổi thọ của con người này, hắn gần như không nhớ rõ dáng vẻ của người bạn thân năm xưa, chỉ nhớ lúc thi thể y từ Yến Châu được vận về, khắp người là vết đao búa đục khoét và những lỗ tên đen kịt, cũng như lồng ngực bị mổ phanh rồi dùng kim chỉ khâu lại…
Đó là tài năng quân sự trẻ tuổi mà Thích lão tướng quân từng khẳng định, chỉ cần rèn luyện thêm vài năm, thành tựu sau này chưa chắc không vượt qua ông, cuối cùng lại rơi vào kết cục như thế!
Giờ đây, thực sự là tái kiến cách biệt một đời rồi.
Tạ Lâm Sơn nhìn đôi mắt đỏ ngầu của Ngụy Nghiêm, tưởng hắn lo lắng cho Thích lão tướng quân, liền hỏi ngay: “Dĩ Khuê, Đại tướng quân bị ai đả thương?”
Ngụy Nghiêm cố nén tâm thần, nói: “Trong Thích gia quân có phản đồ, chuyện này nói ra thì dài, thương thế Đại tướng quân khẩn cấp, về thành rồi nói.”
Tạ Lâm Sơn cũng biết thương thế Thích lão tướng quân không thể trì hoãn, liền gật đầu.
–
Đợi đến khi Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn hộ tống tàn quân Thích gia về đến thành Yến Châu, đã là lúc xế chiều.
Thích Dung Âm ở trên thành lầu nhìn thấy đại quân khải hoàn, chạy xuống thành lầu thấy huynh trưởng mặt đầy vết máu, Thích lão tướng quân thì được thân binh dùng cành cây và dây leo buộc thành cáng khiêng về, sắc mặt trong chớp mắt trắng bệch.
Nàng xách váy tiến lên, cố giữ bình tĩnh hỏi: “Phụ thân sao vậy?”
Thích Hiến Hồn nghẹn ngào, đối với bào muội cũng không nói nổi một câu an ủi, chỉ quay mặt đi nén đau thương.
Vẫn là Ngụy Nghiêm nói: “Đại tướng quân bị phản đồ Từ Sách gây thương tích, trước tiên cứ để quân y xem thương thế.”
Một nhóm người khiêng Thích lão tướng quân vào phủ thành chủ, khi quân y đến chữa trị, Thích Dung Âm và huynh trưởng một tấc cũng không rời canh giữ bên giường.
Hạ nhân bưng chậu nước vào, chẳng bao lâu sau lại bưng từng chậu nước máu ra, không ai nói một câu, không khí trong phòng áp lực đến cực điểm.
Ai cũng biết thương thế của Thích lão tướng quân không hề lạc quan.
Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn đứng khoanh tay ở cửa, Tạ Lâm Sơn nhìn huynh muội Thích gia đang canh giữ bên trong, nói với Ngụy Nghiêm: “Dĩ Khuê, có thể mượn một bước nói chuyện không?”
Ngụy Nghiêm biết Tạ Lâm Sơn muốn hỏi gì, nên gật đầu cùng y rời đi.
Đến chỗ vắng người, Tạ Lâm Sơn đi thẳng vào vấn đề hỏi: “Dĩ Khuê, sao ngươi biết ta dẫn quân đến Yến Châu? Lại biết địa điểm người Bắc Quyết phục kích Đại tướng quân là ở dốc Mã Vương? Lúc về thành ta đã sai trinh sát đi thám thính địa hình rồi, Đại tướng quân bị người Bắc Quyết dẫn đi một vòng lớn mới đến dốc Mã Vương.”
Cuộc cứu viện này tuy nói là kịp lúc, nhưng Tạ Lâm Sơn hiểu rất rõ, nếu không phải Ngụy Nghiêm cử người đưa tin trước cho y, bảo y đi thẳng đến dốc Mã Vương thì đợi y tìm theo dấu vết hành quân của đại quân, vô luận là thế nào cũng không kịp.
Ngụy Nghiêm nhìn người bạn thân, đáy mắt thoáng qua nhiều cung bậc cảm xúc sâu kín, cuối cùng chỉ nói: “Lâm Sơn, ngươi biết ta không tin chuyện quỷ thần, nhưng trên người ta thực sự đã xảy ra chuyện quái lực loạn thần.”
“Ta chẳng qua là sau một trận huyết chiến, không cưỡng lại được mệt mỏi mà nhắm mắt nghỉ tạm trên thành lầu một lát, liền như cưỡi ngựa xem hoa nhìn hết chuyện nửa đời sau. Hôm nay phụ thân Thích lão tướng quân thân lâm hiểm cảnh, thực sự chỉ là một mình Từ Sách có thể mưu tính được sao?”
Tạ Lâm Sơn nghe ra ẩn ý, ánh mắt sắc lẹm: “Là Giả gia?”
Giả quý phi thánh sủng đương nồng, Giả gia nhờ đó mà gà chó lên trời, Thập Lục hoàng tử ý đồ tranh vị với Thái tử, Giả gia và Thích gia ngoài sáng trong tối đấu đá cũng không phải ngày một ngày hai.
Ngụy Nghiêm lại lắc đầu, sau hai kiếp người, cuối cùng cũng nói ra nỗi dằn vặt bấy lâu với cố nhân: “Là lời ‘nhường ngôi’ đó của ta, đã lọt vào tai bệ hạ.”
Đồng tử Tạ Lâm Sơn co rụt lại, đột ngột quay sang nhìn Ngụy Nghiêm: “Người muốn Thích gia chết, là bệ hạ?”
Ngụy Nghiêm nhắm mắt nặng nề nói: “Thích gia nắm trọng binh trong tay, vị trong cung kia kiêng dè Thái tử đến thế, lại được khách khanh Đông cung tiết lộ lời ‘nhường ngôi’ của ta, muốn đối phó Thái tử, việc đầu tiên phải trừ bỏ chính là Thích gia. Không còn binh quyền, danh vọng của Thái tử trong dân gian có cao đến mấy, cuối cùng cũng chỉ có thể là ‘Thái tử’.”
Tạ Lâm Sơn nghe xong im lặng, sắc mặt nghiêm trọng đến đáng sợ.
Ngụy Nghiêm nói tiếp: “Nếu mọi chuyện đều như những gì ta thấy trong mộng, Thích gia bị diệt môn chỉ là khởi đầu, đợi đến ngày Thái tử tra ra chân tướng, Thái tử, Tạ gia, Ngụy Nghiêm, đều sẽ bị vị quân vương vô đức trên ghế rồng kia tự tay nhổ tận gốc.”
Tạ Lâm Sơn chau mày: “Điện hạ từ khi được lập làm Thái tử đến nay luôn khoan hậu nhân đức, mấy phen bị Thập Lục hoàng tử và Giả gia chèn ép cũng không hành động khích bác, cho dù lời nói mạo phạm của ngươi lọt vào cung, ông ta ngoài việc càng thêm nghi kỵ thì có thể nắm lấy sai sót gì để một tay lật đổ Đông cung và hai nhà Ngụy, Tạ?”
Liên tưởng đến những gì lão Hoàng đế đã làm với Thích gia, sắc mặt Tạ Lâm Sơn lạnh lùng: “Là gán cho Thái tử một cái ô danh mưu nghịch?”
Từ xưa đến nay chỉ có đại tội mưu nghịch, mới có thể nhổ tận gốc thế lực của một vị trữ quân.
Ngụy Nghiêm cười khổ: “Còn tệ hơn những gì ngươi nói.”
Tạ Lâm Sơn không khỏi ngẩn ra, không nghĩ ra được còn tội gì lớn hơn mưu nghịch.
Ngụy Nghiêm nói: “Không lâu nữa người Bắc Quyết sẽ lại đánh Cẩm Châu, Thích gia không còn ai, ngươi thay thế Thích gia trấn thủ Cẩm Châu, hôn quân kia bất đắc dĩ phải giao binh quyền Thích gia cho ngươi. Thích hoàng hậu lâm trọng bệnh, vì để sau khi mình qua đời Thích gia không hoàn toàn mất đi thế lực trong hậu cung, Thái tử cô độc không người giúp đỡ nên triệu Dung Âm vào cung. Thập Lục hoàng tử đố kỵ với danh vọng Thái tử trong dân gian, kích động bách tính xây ngôi miếu sống cho thái tử, vị hôn quân đó mượn cơ hội này trừng phạt Thái tử, tước quyền giám quốc của Thái tử.”
“Thái tử vì tìm đường ra, nên tự xin đi thân chinh phương Bắc, trong Thích gia quân đã tra ra chân tướng Thích gia bị diệt môn, hôn quân chó cùng rứt dậu vì che đậy hành vi xấu xa của mình đã thiết kế giữ chân viện quân vận chuyển lương thảo. Cuối cùng Cẩm Châu thất thủ, ngươi và Thái tử đều chết dưới đao của người Bắc Quyết. Trách nhiệm chậm trễ đưa lương, sai lầm để thành Cẩm Châu thất thủ, đều bị đổ vạ hết lên đầu ta.”
Tạ Lâm Sơn nghe mà gai ốc nổi khắp người, quát: “Hoang đường!”
Sau khi bình tĩnh lại một lúc, y mới hỏi: “Có bằng chứng không? Bằng chứng chứng minh Từ Sách là người nhận chỉ thị từ trong cung.”
Ngụy Nghiêm nói: “Từ Sách đã chết trên chiến trường, nhưng tại kỳ thi xuân năm nay, nhi tử của ông ta chắc chắn sẽ có tên trong nhóm mười người đứng đầu, đứa con của Từ Sách, vốn chẳng có tài cán gì lớn lao, Lâm Sơn nếu có lòng, cứ tìm vài bài thơ văn hắn viết lúc bình thường, là sẽ rõ ngay tài học nông sâu của hạng người này.”
Lão hoàng đế làm việc thủ đoạn kín đáo, kiếp trước Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn cũng không dễ dàng tra được lên đầu Từ Sách, suy cho cùng Từ Sách và phụ tử Thích gia cùng vạn tướng sĩ truy kích địch ngày đó, đều đã chết trong trận phục kích của người Bắc Quyết, còn được ban tặng danh hiệu trung liệt.
Là sau này Thái tử chịu đủ sự chèn ép của lão Hoàng đế, lại tự xin đến Cẩm Châu, những vây cánh của Thái tử ở lại kinh thành đều không còn được thánh tâm, họ cố gắng từ trong triều thần chọn lọc ra vài vị thuần thần để làm “tai mắt” ở kinh thành, mới sàng lọc tới con của Từ Sách.
Thành tích nằm trong mười hạng đầu nhất giáp của kỳ thi xuân, vốn dĩ đặt ở đâu cũng được xem là nhân vật lừng lẫy một phương.
Khi đó nhi tử của Từ Sách tuy chỉ là một Hàn lâm viện Biên tu, nhưng nếu lòng mang hoài bão, về sau chẳng thiếu cơ hội để đại triển hồng đồ, thêm vào đó, phụ thân của hắn ta lại là trung tướng dưới trướng Thích gia, nên sau khi chọn tới chọn lui, họ nhận thấy tiếp cận nhi tử của Từ Sách là thích hợp hơn cả.
Nào ngờ chính trong lúc điều tra kỹ lưỡng người này, họ mới phát hiện ra tài học của hắn ta tầm thường, nhìn thế nào cũng không giống kẻ có khả năng thi đỗ vào nhất giáp.
Cứ thế thuận theo manh mối mà tìm kiếm, cuối cùng đã tra ra được chân tướng về việc phụ tử Thích gia chiến tử.
–
Cách ngày yết bảng kỳ thi xuân còn một tháng, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, đã quyết định tạm thời giấu kín chuyện này với Thích Hiến Hồn vốn tính tình như pháo đốt.
Thích lão tướng quân thương thế trầm trọng, khó khăn lắm mới giữ được một mạng, từ nay về sau không thể động võ được nữa, hai người sợ khiến lão tướng quân đau lòng, lại thêm hiện tại chưa có bằng chứng xác thực, nên trước khi mọi chuyện ngã ngũ, họ cũng không báo cho lão tướng quân hay.
Tuy vậy, bọn họ đã bắt đầu bắt tay vào điều tra nhi tử của Từ Sách.
Đợi đến khi yết bảng kỳ thi xuân, thánh chỉ tuyên bọn họ vào kinh thụ phong cũng vừa vặn hạ xuống.
Thích lão tướng quân có thương tích trong người, không thể lặn lội đường xa, bèn để đứa con là Thích Hiến Hồn thay mặt vào kinh, lão tướng quân tự biết mình đã già, còn giao cả hổ phù cho trưởng tử, dặn hắn ta thay mình trao trả lại cho Hoàng đế.
Lão Hoàng đế năm đó có thể ngồi lên đế vị, hoàn toàn là nhờ cậy vào binh quyền của Thích gia, nay Thích lão tướng quân tuy không thể ra chiến trường, nhưng Thích Hiến Hồn vẫn còn đó.
Nếu lão ta thực sự thu hồi hổ phù, chẳng khác nào khiến toàn bộ triều thần nhìn rõ tâm tư “chim hết thì cất cung’ của mình, lão Hoàng đế sẽ không nôn nóng quá mức như thế để rồi tự đánh mất lòng thần tử.
Bởi vậy chiếc hổ phù này, phần lớn vẫn sẽ được giao vào tay Thích Hiến Hồn.
–
Sau khi ba người vào kinh, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn thường xuyên cùng nhau ra vào các tửu lâu lớn, khiến Thích Hiến Hồn vô cùng khó chịu.
Trước kia ba người ở trong quân ngũ đều là huynh đệ tốt, sao vừa về kinh lại đột nhiên có sự phân biệt thân sơ, đi uống rượu cũng không gọi hắn ta theo?
Thích Hiến Hồn cho sắc mặt với hai người suốt mấy ngày, chẳng ngờ hai kẻ kia dường như hoàn toàn không phát giác ra, khiến Thích Hiến Hồn tức giận đến mức lúc luyện thương đã đâm vỡ vụn mấy phiến đá xanh lót nền của Tiến Tấu Viện.
Hắn ta lại quan sát thêm hai ngày, phát hiện hai người Ngụy, Tạ có điểm rất không đúng!
Họ ra khỏi cửa, giữa đường còn phải đổi xe ngựa một lần, hành tung thật sự lén lén lút lút!
Thích Hiến Hồn dứt khoát âm thầm bám theo, lúc này mới phát hiện hai người kia lại rủ nhau đi thanh lâu.
Hắn ta tức đến mức cũng trực tiếp xông vào thanh lâu, đi đá cửa phòng.
Hắn ta giống Thích lão tướng quân, vóc dáng cao lớn vạm vỡ, cú đá mười phần thô bạo kia hạ xuống, cánh cửa liền cùng khung cửa đều bị dỡ tung.
Giọng nói lại thô kệch, chấn động đến mức nước trà trên bàn cũng phải lung lay: “Họ Ngụy kia ta nói cho ngươi biết! Muốn cưới muội muội ta mà còn dám đi thanh lâu, thật coi mười vạn binh sĩ trong Thích gia quân ta không chọn ra được một phu lang như ý cho muội ấy sao? Chẳng trách mấy ngày nay hai người các ngươi đều trốn tránh ta, hóa ra là đi tìm hoa hỏi liễu!”
Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn vốn đang âm thầm điều tra bí mật bày mưu, bị mắng xối xả như vậy, lúc này cũng không kịp lo gì khác, một người tiến lên lôi kéo Thích Hiến Hồn vào phòng để tránh đứng bên ngoài thu hút người xem náo nhiệt, một người khác thì bịt chặt miệng hắn ta.
Cứ thế vừa kéo vừa lôi, cuối cùng cũng đưa được Thích Hiến Hồn vào trong phòng.
Quản sự trong lầu thấy tình thế không ổn liền ra mặt kiểm soát hiện trường, đuổi khéo những người xem náo nhiệt đi, còn trêu chọc nói là đại cữu ca bắt quả tang chuẩn muội phu đi thanh lâu nên nổi trận lôi đình, lại sai gã sai vặt lanh lợi canh giữ ở mấy lối lên xuống gần đó, đề phòng có người tới nghe lén.
Ngụy Nghiêm đi đem tấm ván cửa bị hỏng chắn tạm lại, Tạ Lâm Sơn một mình ấn chặt Thích Hiến Hồn, không nhịn được mà nới lỏng tay bịt miệng hắn ta ra.
Thích Hiến Hồn ngửa cổ gào lên: “Các ngươi đừng hòng bắt lão tử thông đồng làm bậy với các ngươi, lão tử là người đã có vợ có con! Lão tử phải giữ mình trong sạch!”
Tạ Lâm Sơn dứt khoát rút khăn trải bàn nhét luôn vào miệng hắn ta.
Thích Hiến Hồn ú ớ kêu gào, đôi mắt như muốn phun ra lửa.
Tạ Lâm Sơn nói: “Hiến Hồn huynh, đắc tội rồi, ta cùng Dĩ Khuê huynh tới đây không phải để tìm hoa hỏi liễu, mà là có đại sự cần mưu tính, Tiến Tấu Viện tai mắt quá nhiều, bất đắc dĩ mới phải ra hạ sách này.”
Y vừa nói vừa đặt một xấp thư văn xuống trước mặt Thích Hiến Hồn: “Hiến Hồn huynh mời xem.”
Thích Hiến Hồn lật hai trang liền la lên: “Lão tử bình sinh ghét nhất là đọc sách, các ngươi đưa cho lão tử xem mấy thứ thơ văn này làm gì?”
Ngụy Nghiêm nói: “Kẻ ngày thường chỉ viết ra được những lời lẽ thô thiển tầm thường thế này, lại ở kỳ thi xuân lần này xếp tên trong mười hạng nhất giáp, Hiến Hồn huynh không cảm thấy kỳ quái sao?”
Thích Hiến Hồn nhíu mày: “Kẻ này gian lận khoa cử?”
Ngụy Nghiêm đáp: “Người này chính là nhi tử của Từ Sách.”
Sắc mặt Thích Hiến Hồn lập tức trở nên dữ tợn: “Từ Sách tên phản đồ đó, lão tử đã thay phụ thân viết chiến báo dâng lên bệ hạ, nhi tử của một kẻ tội nhân mà còn vọng tưởng dựa vào gian lận khoa cử để nhập sĩ?”
Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn nhìn nhau, cả hai đều im lặng trong giây lát.
Tạ Lâm Sơn nói: “Thi đình do bệ hạ đích thân giám sát, không thể gian lận được.”
Thích Hiến Hồn chậm nửa nhịp cuối cùng cũng phản ứng lại: “Là bệ hạ giúp hắn có được thứ hạng này?”
Kết quả này rõ ràng đã vượt ra khỏi nhận thức của hắn ta, hắn ta ngẩng đầu nhìn hai người Tạ, Ngụy, hỏi: “Tại sao? Tại sao bệ hạ lại giúp nhi tử của một kẻ phản tặc gian lận?”
Ngụy Nghiêm lúc này mới nói: “Bản chiến báo tố cáo Từ Sách kia đã bị Thái tử tạm thời giữ lại, vẫn chưa được đưa tới trước mặt bệ hạ.”
Đầu óc Thích Hiến Hồn đã thành một mớ hỗn độn.
Bệ hạ vẫn chưa biết chuyện Từ Sách là phản đồ, lại còn giúp nhi tử Từ Sách gian lận…
Một luồng khí lạnh bò lên sống lưng, Thích Hiến Hồn nói: “Từ Sách là người của bệ hạ?”
Hai người Ngụy, Tạ đều không lên tiếng, coi như mặc nhận.
Thích Hiến Hồn đập mạnh xuống bàn bát tiên, mắng: “Hoang đường! Thích gia vì ông ta vào sinh ra tử, ông ta dựa vào cái gì mà…”
Hắn ta còn định to tiếng ồn ào, liền bị Ngụy Nghiêm kịp thời bịt miệng: “Ta biết Hiến Hồn huynh trong lòng bi phẫn, nhưng Hàm Yên Lâu này cũng không phải hoàn toàn không có tai mắt, vẫn nên cẩn trọng lời nói.”
Thích Hiến Hồn cuối cùng cũng bình tĩnh lại.
Thấy hắn ta không còn lên tiếng, Ngụy Nghiêm mới buông bàn tay đang bịt miệng hắn ta ra.
Gân xanh trên trán Thích Hiến Hồn nổi lên cuồn cuộn, cố nén tức giận và hận ý hỏi: “Các ngươi tính toán thế nào?”
Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn nhìn nhau rồi nói: “Điện hạ đã biết chuyện huynh và Đại tướng quân đều suýt chết ở Yến Châu, huynh có hổ phù của mười vạn binh mã Thích gia trong tay, Lâm Sơn cũng có Tạ gia quân ở Huy Châu, nay chỉ đợi phía Điện hạ gật đầu thôi.”
Gật đầu làm gì, tất nhiên không cần nói cũng hiểu.
Lão Hoàng đế đã không dung nổi Thích gia, muốn giết cả nhà Thích gia để đoạt lại binh quyền, mất đi Thích gia, Thái tử cũng chẳng là gì cả.
Hoàng đế đây là đã kề dao tới lên cổ Thái tử rồi.
Ngụy Nghiêm biết với tính tình nhân hậu mềm mỏng của Thái tử, khi đưa ra quyết định này sẽ phải đấu tranh rất lâu, nhưng đấu tranh xong, hắn ta cũng chỉ còn con đường duy nhất đó để đi.
Dẫu sao, nếu tiếp tục nhường nhịn, chính là đưa Đông Cung và Thích gia vào con đường chết một lần nữa.
Thích Hiến Hồn tuy vừa bị tin tức Hoàng đế muốn hại cả nhà mình làm cho chấn động phẫn nộ, nhưng khi nghe Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn bình tĩnh nói ra chuyện mưu tính, hắn ta vẫn cảm thấy chân tay từng trận phát lạnh.
Mưu nghịch, đại tội tru di cửu tộc, chỉ một chút sơ sẩy sẽ bị tịch thu gia sản chém đầu cả nhà.
Nhưng nghĩ đến những tướng sĩ Thích gia quân đã hy sinh trên chiến trường, bản thân và phụ thân cũng là từ quỷ môn quan mới nhặt lại được một mạng, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn đều có thể liều mạng mà đánh cược, Thích gia hắn ta còn sợ cái gì?
Thích Hiến Hồn nhanh chóng siết chặt nắm đấm nói: “Hôn quân như vậy, không xứng để Thích gia ta vì ông ta mà đổ máu trên chiến trường!”
Hắn ta nhìn về phía Ngụy Nghiêm: “Trong kinh ngoài Ngũ Quân doanh, còn có Thần Cơ doanh là một đối thủ đáng gờm.”
Ngụy Nghiêm đáp: “Việc đó cứ giao cho ta và Lâm Sơn.”
–
Sau cuộc mưu tính này, về việc để lão Hoàng đế “nhường ngôi”, ba nhà Tạ, Ngụy, Thích về cơ bản đã đứng cùng trên một sợi dây.
Chỉ là vì tiếng gầm lớn ngày đó của Thích Hiến Hồn, chuyện Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn đi thanh lâu vẫn bị truyền ra ngoài.
Không ít quý nữ trong kinh vì chuyện này mà khóc đỏ cả mắt, không thể tin được “song bích” kinh thành này, lại cũng là hạng người say đắm chốn gối hoa ngủ liễu!
Ngày hôm sau Ngụy Nghiêm gặp Thích Dung Âm ở Tiến Tấu Viện, đang định nói chuyện với nàng, Thích Dung Âm lại chẳng thèm liếc hắn lấy một cái, tay cầm quạt tròn, mặt lạnh lùng đi thẳng qua.
Lúc Tạ Lâm Sơn đến tìm Ngụy Nghiêm, trên tay còn ôm một bó lớn hoa hải đường Tây Phủ, thấy Ngụy Nghiêm liền ngượng ngùng sờ mũi: “A Quán nghe nói chuyện ta đi thanh lâu liền không chịu gặp ta nữa, bó hải đường này huynh giúp ta đưa cho A Quán, rồi… nói giúp ta vài câu tốt đẹp.”
Ngụy Nghiêm nói: “Ngươi ngược lại đã nhắc nhở ta, ta phải để Hiến Hồn đi cầu tình giúp ta ở chỗ Dung Âm mới được.”
Đợi đến khi Ngụy Nghiêm tìm tới Thích Hiến Hồn, nói rõ ý định, Thích Hiến Hồn mặt mày khổ sở: “Đồ đạc của ta đều bị phu nhân ném hết ra khỏi phòng rồi, cả thư hòa ly cũng đã soạn sẵn bắt ta ký tên đây.”
Tạ Lâm Sơn: “…”
Ngụy Nghiêm: “…”
Đột nhiên nảy sinh một nỗi thê lương đồng bệnh tương lân.
Thích Hiến Hồn vô cùng đau đầu nói: “Dung Âm đêm qua cùng tẩu tẩu muội ấy khóc suốt một đêm, cũng nói muốn hủy hôn, chuyện kia chưa thành, ta cũng không dám nói thật với họ. Hôm nay phủ Khánh Quốc công tổ chức tiệc Bách Hoa, phu nhân đưa Dung Âm ra ngoài rồi, nói là còn hẹn cả Ngụy cô nương, muốn cùng tới yến tiệc chọn lang quân như ý.”
Sắc mặt Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn đều biến đổi kịch liệt, đồng thời ôm quyền: “Cáo từ.”
……
Cuối mùa xuân năm Khải Thuận thứ mười sáu, lão Hoàng đế nhiễm “trọng bệnh”, Thập Lục hoàng tử và Giả gia ý đồ mưu phản, bị Thừa Đức Thái tử dẫn đầu các trọng tướng Ngụy Nghiêm, Tạ Lâm Sơn, Thích Hiến Hồn bắt gọn.
Tiên đế chịu không nổi sự kích động khi sủng phi và hoàng tử được sủng ái nhất của mình đều là hạng luồng muông dạ thú, một hơi thở không “hồi” lại được, đã quy tiên.
Thừa Đức Thái tử, vị trữ quân danh chính ngôn thuận, được bách quan quỳ thỉnh đăng cơ làm Hoàng đế, đổi niên hiệu thành Khánh Hòa.
Cùng năm đó, tân đế đã ban hôn cho hai vị trọng thần Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn, đồng thời đích thân làm người chứng hôn cho hai người.
Sau đó không lâu, Bắc Quyết lại tới xâm phạm, Tạ Lâm Sơn đưa thê tử Ngụy Quán tới Cẩm Châu trấn thủ biên thùy, Ngụy Nghiêm ở lại thủ kinh thành, nhưng vì xót muội muội nên đã điều gia tướng đắc lực Ngụy Kỳ Lâm dưới trướng mình sang cho Tạ Lâm Sơn, lệnh cho hắn ta bảo vệ Ngụy Quán chu toàn.
Ba năm sau, bắc cảnh đại định, khắp nơi thái bình, Tạ Lâm Sơn đưa vợ về kinh thăm người thân, còn mang theo một đứa nhỏ kháu khỉnh thần thái thanh tao, cốt cách tuấn tú.
Đứa trẻ do Ngụy Quán sinh ra trong lúc y đang đi chinh chiến, phương sĩ đi ngang qua nói đứa nhỏ này mệnh cách cực kỳ cứng, lấy tên thường e là không áp chế nổi, Tạ Lâm Sơn liền dùng chữ “Chinh” đặt tên cho đứa trẻ.
Khi Ngụy Quán về nhà ở lại vài ngày, Ngụy Kỳ Lâm tìm đến trước mặt Ngụy Nghiêm: “Chủ tử, mạt tướng phải lòng một vị cô nương, muốn cầu chủ tử làm mai cho mạt tướng.”
Bấy giờ Ngụy Nghiêm đang mặc bộ nho bào ôn nhã, đang vẽ tranh trong thư phòng, nghe vậy ngòi bút hơi khựng lại, hỏi: “Cô nương nhà ai?”
Ngụy Kỳ Lâm đáp: “Thường Sơn tướng quân dưới trướng Tạ tướng quân, là ái nữ duy nhất của Mạnh thúc viễn Mạnh lão tướng quân.”
Ngụy Nghiêm nhấc mắt: “Muốn cưới cô nương người ta sao?”
Vị tướng quân da thịt thô ráp cười hì hì, nói: “Mạt tướng ở rể.”
Gió mát theo cửa sổ rộng mở lùa vào, làm lay động tờ giấy tuyên thành đang vẽ dở trên bàn sách.
Ngụy Nghiêm dường như cũng mỉm cười, đáp: “Được.”
