Bản Ghi Chép Ẩm Thực Vùng Núi Của Nương Tử Thủ Lăng
Chương 251: Chế Tạo Máy Ép Dầu Nhỏ
Tiếng “két” của cánh cửa gỗ làm cho bầu không khí nơi sườn núi càng thêm u tĩnh, Ổ Thường An giẫm mạnh lên lớp băng vụn, liếc nhìn Đào Xuân một cái, thấy khóe miệng nàng đang cong lên, hắn khẽ tàng hắng một tiếng.
Đào Xuân quay đầu đi cười khẽ, nói: “Đi thôi, đi thôi, về nhà ăn cơm.”
Ổ Thường An muốn hỏi nàng đã nói gì với Hồ a ma, mà lúc bà cụ nhìn hắn lần cuối đến cái liếc mắt cũng chẳng buồn cho, khóe miệng cứ trễ xuống, khiến hắn bị nhìn tới mức không ngẩng đầu lên nổi.
Đào Xuân nhét bạch phỉ thúy cho hắn, dặn: “Cất vào bao tải đi, cầm trên tay lộ liễu quá.”
Tâm trí Ổ Thường An bị dời đi, hắn phát hiện miếng bạch phỉ thúy trên tay giống như cái chặn giấy mà các phu tử trong học đường ngoài núi hay dùng, vuông vức bốn cạnh, một mặt còn có hoa văn chạm khắc.
“Cái đó…” Hắn mỉm cười, tằng hắng nói: “Lúc ta mài giũa sẽ giữ lại mặt chạm khắc này.”
Đào Xuân nhéo hắn một cái.
Ổ Thường An cười to sảng khoái, làm lũ chim lạnh đang trú ngụ trên cây giật mình bay tán loạn.
Đi ngang qua nhà Lăng trưởng, con chó nhà ông ta nghe động tĩnh sủa lên hai tiếng, thấy mặt người quen liền vẫy vẫy đuôi.
Hồ nhị tẩu bước ra xem, ngạc nhiên nói: “Chao ôi! Hai người giờ này sao còn ở đây? Ăn cơm chưa? Trong nhà đang dùng bữa, vào ăn một chút đi.”
Đào Xuân muốn bớt việc nên nói: “Ở nhà Hồ a ma đã cùng lão nhân gia dùng hai bát cơm rồi, ăn no rồi ạ, Nhị tẩu mau vào ăn đi, bọn ta cũng về đây.”
Hồ nhị tẩu sững sờ, nàng ta quay vào nhà bảo: “Mọi người đoán xem vừa nãy con ra ngoài gặp ai?”
“Cái giọng oang oang của Đào Xuân, ở trong nhà đều nghe thấy cả rồi.” Hồ Gia Toàn gắp cho nàng ta một miếng thịt, chép miệng nói: “Cô nãi nãi nhà ta đúng là quý Đào Xuân thật, còn…”
“Ăn cơm của con đi.” Niên thẩm tử ngắt lời.
Hồ Gia Toàn phản ứng lại, suýt nữa thì lỡ miệng, trong nhà trừ hắn ta và mẫu thân của hắn ta ra, những người khác đều không biết chuyện Đào Xuân mắng cô nãi nãi.
Lăng trưởng đưa mắt nhìn qua nhìn lại hai người: “Hai mẫu tử các người đang đánh đố gì thế?”
Niên thẩm tử không tiếp lời, bà ta gõ nhẹ đầu đũa của lão già nhà mình, mắng: “Ông cứ nằm trên giường suốt nửa ngày, ăn ít thịt thôi, ăn nhiều củ cải vào, kẻo lại béo ra một thân mỡ, đi đứng không nhanh nhẹn là ta nhìn ngứa mắt đấy.”
Dứt lời, bà ta nói tiếp: “Ta cho rằng cô mẫu thích những người tính tình hoạt bát, giống như người già thích mấy đứa nhỏ tinh quái vậy, bộ dạng Đào Xuân trông cũng không xấu, lại hợp nhãn duyên của bà ây. Đám trẻ nhà mình gặp bà ấy đều chẳng dám ho he lời nào, hỏi một câu phải cân nhắc nửa ngày mới dám mở miệng, thật nhạt nhẽo, chẳng trách cô mẫu không buồn nói chuyện với chúng.”
Hồ đại tẩu bị lời này làm cho tự ái, nàng ta bỗng dưng mất cả hứng ăn, dứt khoát buông đũa không ăn nữa.
Người cùng bàn không phải không nhận ra nàng sa sầm mặt mày, nhưng chẳng ai buồn để ý, Hồ Gia Toàn đưa mắt nhìn phụ thân mình, nói: “Chuyện này không thể đổ hết lên đầu bọn con được, có trách thì phải trách phụ thân con ấy, con từ lúc bé tí đã bị phụ thân túm lại dặn dò phải kính trọng cô nãi nãi, kính trọng mãi thành ra thói quen, không cách nào đứng trước mặt lão thái thái mà đùa giỡn được.”
Qua vài câu đưa đẩy, Lăng trưởng hoàn toàn quên mất lời suýt lỡ miệng của Hồ Gia Toàn lúc trước.
Bên kia, Đào Xuân và Ổ Thường An đã về đến nhà, hai phu thê vào cửa chưa đầy nửa nén nhang, Đại đường ca và Nhị đường ca đã tới.
Ổ Thường An vừa hay buông bát đũa, ba huynh đệ họ cùng sức bê phiến đá kéo về được vào trong sân, dùng nước tuyết lau rửa sạch sẽ, rồi dựng sát tường cho khô.
“Sáng mai gọi thêm người, đi khiêng nốt phiến đá kia về.” Đại đường ca nói.
Ổ Thường An mệt đến mức tựa vào tường thở dốc, hắn gật đầu: “Lát nữa ta ra ngoài một chuyến, tìm mấy người trong đội tuần tra, bảo sáng mai đi với chúng ta một chuyến trước, khiêng phiến đá lớn kia về.”
Buổi sáng, ba người bọn họ đào được bốn phiến đá, trong đó phiến lớn nhất ước chừng nặng bảy tám trăm cân, ba huynh đệ hợp lực cũng chỉ bẩy lên được một góc, nên chỉ khiêng về được một phiến nặng ba bốn trăm cân. Trên đường về, Mặt Thẹo không kéo nổi, ba người phải đi sau đẩy phụ.
Nghĩ xong, Ổ Thường An ra ngoài một lát, khi trở về hắn dắt theo một con bò lớn, cùng với cái xe trượt tuyết bằng gỗ trước đây dùng vận chuyển miến và đồ gốm, vì tấm ván gỗ ở nhà lúc chở đá đã bị ép nứt rồi.
Xong xuôi việc ban ngày, đêm đến sau khi tắm rửa, Ổ Thường An đem hết dụng cụ đục đá vào phòng ngủ, hắn thắp đèn dầu ngồi trước bàn, nâng niu miếng bạch phỉ thúy tỉ mỉ mài giũa.
“Chàng biết điêu khắc ngọc à?” Đào Xuân hỏi.
“Chưa điêu khắc bao giờ, nhưng biết đục đá mà, nghe nói ngọc từ đá mà ra, chắc cũng chẳng khác nhau là mấy.” Ổ Thường An không ngẩng đầu lên nói: “Nàng đi ngủ đi, đừng nói chuyện với ta.”
Đào Xuân lườm một cái, còn chê nàng làm phiền nữa cơ đấy.
Đào Xuân ngồi bầu bạn thêm một lúc, nàng vẽ vời lên giấy nháp, chống cằm suy tính hình dáng của máy ép dầu, nghĩ tới mức đau cả đầu, giấy nháp cũng hỏng mấy tờ, nàng mất kiên nhẫn, đứng dậy ngã vật xuống giường.
Ổ Thường An chẳng hề nhận ra người bên cạnh đã đi từ lúc nào, mãi đến khi dầu trong đèn cháy cạn, hắn mới ngáp dài leo lên giường đi ngủ.
Ngày hôm sau, người của đội tuần tra giúp khiêng tảng đá khổng lồ lên ván gỗ, Mặt Thẹo cùng con bò khác hợp lực kéo về, sau đó Ổ Thường An không ra ngoài nữa, ban ngày hắn ngồi trong sân đục cối đá, buổi tối ngồi dưới đèn dầu mài phỉ thúy.
Đào Xuân cũng không rảnh rỗi, nàng chọn một thanh đá dài cỡ lòng bàn tay từ đống đá vụn mà Ổ Thường An đập xuống, theo lời hắn dặn, thanh đá được ngâm trong nước ấm, lau khô rồi bôi mỡ lợn, phủ một lớp mỡ dày để đó hai ngày, khi đục, tiếng đục nghe êm tai hơn nhiều.
Đào Xuân muốn làm một cái khung đá hình chữ “Hồi” dài, vì thanh đá nhỏ nhắn, khi đục rất dễ nứt nên phải kiên nhẫn gõ từng chút một.
Ngày đầu tiên, nàng chỉ mới đục bong được một lớp vỏ đá.
Ngày qua ngày, phần đế cối đá của Ổ Thường An đã bắt đầu lộ rõ hình hài, chuẩn bị đục rãnh đá, còn khung đá của Đào Xuân mới chỉ là một cái hố đá.
Nửa tháng trôi qua, đợt tuần tra mới lại bắt đầu, Ổ Thường An và Đào Xuân tạm gác việc trên tay, thay ủng dài và áo da sói, mang theo cung tên và dao rựa bước ra khỏi cửa.
Ban ngày tuần tra, tối đến về nhà, hai phu thê thắp đèn dầu ngồi đối diện nhau bên bàn, một người tiếp tục mài ngọc, một người cầm khung đá hình chữ “Hồi” nghiên cứu cách ép dầu.
Đào Xuân đêm nghĩ ngày ngẫm, cuối cùng vào giữa tháng Hai cũng dùng khung đá, thanh đá và thanh gỗ làm ra được máy ép dầu.
“Ổ Thường An, chàng xem này.” Đào Xuân nhét xấp giấy cỏ ướt đã gấp lại vào trong khung đá, những chỗ còn trống lần lượt dùng thanh gỗ và thanh đá chèn vào, khi cả ba thứ đã lấp đầy khung đá, nàng cầm búa gỗ gõ vào một thanh gỗ phía trước hẹp phía sau rộng, dưới sức ép, nước trong giấy cỏ ướt bị ép chảy ra ngoài.
Ổ Thường An đã hiểu, đồng thời trong đầu phác họa ra một chiếc máy ép dầu lớn hơn, bao gồm cả phần đế và khung chống đỡ, hắn lấy một tờ giấy nháp, dùng than vẽ sơ đồ, vẽ được một nửa thì dừng lại nói: “Không ổn, không tìm được cột đá phù hợp, nhưng nếu dùng gỗ thì tiện hơn nhiều, chặt một cây cổ thụ hai người ôm không xuể, khoét rỗng ở giữa, đặt nằm ngang trong nhà, hai đầu kê gỗ lên, bên dưới đặt thùng hứng dầu.”
Đào Xuân gật đầu lia lịa: “Được, có thể dùng gỗ thay thế.”
“Vậy mai đi nói với Lăng trưởng, vừa hay đầu xuân phải vào rừng trồng thêm cây con, nhân tiện chặt một cái cây luôn.” Ổ Thường An nói.
Đào Xuân không có ý kiến, nàng giơ tờ giấy nháp trên bàn lên, đắc ý nói: “Chao ôi! Đào Xuân ta đúng là thông minh lanh lợi, vậy mà cũng làm ra được máy ép dầu. Ta đây là ở trong núi sâu, chứ nếu ở ngoài kia, phỏng chừng cũng là một đại phú hộ rồi.”
“Không làm phú hộ được thì tương lai nàng sẽ là Lăng trưởng đại nhân của lăng Công Chúa chúng ta.” Ổ Thường An dùng khăn lau sạch vụn ngọc trên tay, hắn cúi người bế bổng nàng lên, sải bước dài về phía giường, cười nói: “Để ta tới hầu hạ Lăng trưởng đại nhân nào.”
