Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 170: Ngoại Truyện Phần Công Tôn – Công Tôn Ngân x Tề Xu
Bên ngoài phật đường lại lất phất mưa phùn, thời tiết oi bức, làn hương tỏa ra từ lò Bác Sơn dường như cũng trở nên nặng nề, lờ lững trôi trong phật đường u tối.
Tề Xu chống khuỷu tay nhìn An Thái hoàng thái phi thắp hương trước phật, đầu ngón tay sơn màu đậu khấu gảy nhẹ chén trà trước án nhỏ, chậm rãi hỏi một câu: “Mẫu phi, thế gian này người cầu thần hỏi phật nhiều như vậy, Bồ Tát thực sự có thể nghe rõ tâm nguyện của mỗi người sao?”
An Thái hoàng thái phi thắp hương xong, khẽ trách nữ nhi: “Không được bất kính trước phật.”
Khi trở lại bàn nhỏ ngồi xuống, lại bổ sung một câu: “Lòng thành ắt linh.”
Tề Xu cụp mắt xuống, vẫn lơ đãng gảy nhẹ chiếc chén sứ vân băng nứt chứa nửa chén trà trên án, sóng nước dao động, lá trà bên trong cũng theo đó mà trôi nổi.
Cũng không biết là vân nước này loạn, hay là lòng người đang loạn.
Bàn tay đang lần tràng hạt của An Thái hoàng thái phi chợt khựng lại, hỏi nữ nhi: “Xu nhi có tâm sự?”
Tề Xu thu tay lại, gối đôi cánh tay trắng như ngó sen nằm sấp trên bàn, tay áo lụa màu vàng cam nhẹ nhàng rủ xuống đất như một đóa sen vàng nở rộ, nàng nhìn bức tượng Quan Âm bằng bạch ngọc cung phụng trước khám thờ phật, buồn bực đáp: “Không có ạ.”
An Thái hoàng thái phi hỏi: “Trận mã cầu hôm đó, Thiếu sư và Thẩm tiểu công gia đều vì cứu con mà bị thương sao?”
Tề Xu khẽ mím môi: “Bản cung là công chúa Đại Dận, lá ngọc cành vàng, bọn họ sợ con bị thương mà chạy đến cứu có gì lạ đâu? Hơn nữa, con có A Ngọc cứu rồi.”
Chân mày An Thái hoàng thái phi hơi trầm xuống một chút: “Xu nhi, từ khi nào con trở nên kiêu căng vô lễ như vậy?”
Tề Xu liền không nói lời nào nữa, chỉ ngắt cánh hoa của một đóa hoa súng chưa bằng bàn tay đang nuôi trong chiếc vò sứ nhỏ bên cạnh.
Hiểu con không ai bằng người làm mẫu thân, An Thái hoàng thái phi khẽ thở dài: “Thẩm gia đời đời trâm anh, Thẩm tiểu công gia tuy không bằng Nhiếp chính vương, nhưng trong triều vốn có tiếng hiền đức, tính tình cũng cực tốt, với con mà nói, coi như là lương phối. Thiếu sư bây giờ tuy giảng học cho thiên tử, nhưng Công Tôn thị Hà Gian đã trăm năm không vào triều làm quan, chỉ ở trong giới sĩ phu thiên hạ là có danh tiếng lẫy lừng, hắn mười bảy tuổi đỗ Thám hoa nhưng lại không nguyện vào triều làm quan, chỉ là muốn cho thiên hạ biết cái gốc rễ của Công Tôn thị Hà Gian vẫn còn đó mà thôi. Người này giao hảo với Nhiếp chính vương, dù không kiêu ngạo như Nhiếp chính vương, nhưng cũng mang trong mình khí phách cuồng ngạo của văn nhân, lửng thửng như cơn gió, con không giữ được hắn đâu.”
Cánh hoa súng bị ngắt xuống trong lòng bàn tay trắng nõn bị vò nát hoàn toàn, Tề Xu cuối cùng đáp lại một câu: “Con nghe lời mẫu phi.”
Nàng khoác dải lụa dài màu xanh biếc lên cánh tay, bước ra khỏi phật đường, khi An Thái hoàng thái phi nhìn bóng lưng nữ nhi, khẽ lắc đầu, quỳ trước tượng Quan Âm chắp tay, khẽ niệm một câu: “Ngã Phật từ bi…”
…
Mưa bụi như sương, Tề Xu sau khi ra khỏi phật đường liền cho cung nhân lui xuống, nằm sấp lên thành ghế dựa mỹ nhân bên hành lang cung điện, thẫn thờ nghe tiếng mưa rơi trên lá chuối tây ngoài hành lang.
Lần đầu nàng gặp Công Tôn Ngân là năm nàng mười bốn tuổi, khi đó nàng theo mẫu phi về Hà Gian thăm thân.
Sau khi mẫu phi tin phật, từng hứa một lời thề trước phật, hễ gặp chùa chiền tất vào lễ bái, đúng lúc ngoại tổ mẫu lâm trọng bệnh, mẫu phi liền đến chùa Quảng Lăng nổi tiếng nhất Hà Gian để lễ phật ba tháng, cầu phúc cho ngoại tổ mẫu.
Cuộc sống trong chùa khô khan lại kham khổ, thức ăn đưa tới mỗi ngày cũng không có chút thức ăn mặn nào, nghĩ là cầu phúc cho ngoại tổ mẫu, nàng cũng nhẫn nhịn được.
Chỉ là ngày ngày bị một đám lão hòa thượng vây quanh tụng kinh, Tề Xu buồn bực vô cùng, phần lớn thời gian nàng đều đi dạo giữa núi rừng và chùa chiền, xem các danh lam thắng cảnh.
Trên đỉnh núi có một gian đình, tên gọi là Phong Vũ Lang Đình, nghe nói đã đứng vững gần trăm năm, là nơi cao tăng khai tự viên tịch, Tề Xu tò mò cũng từng leo lên xem thử.
Nàng sinh ra đã ở trong hoàng cung nạm vàng khắc ngọc, cung điện hùng vĩ nhất thế gian nàng đều đã thấy qua, nên gian đình trên đỉnh núi kia chẳng mang lại cho nàng bao nhiêu kinh ngạc. Ngược lại, trong đình có một bàn đá, trên bàn khắc bàn cờ Tượng hí, còn dùng những quân cờ bằng đá điêu khắc hai màu xanh trắng to bằng nắp chén trà bày ra một ván cờ tàn, thu hút sự hứng thú của Tề Xu.
Người thời bấy giờ chuộng cờ vây hơn, cho rằng Tượng hí là hai quân đối trận, ý nghĩa công phạt quá nặng, không bằng cờ vây thể hiện được đức tính của quân tử.
Tề Xu tử nhỏ đã có phần ngang tàng, nhưng lại từng thấy qua không ít kỳ phổ của Tượng hí trong Văn Uyên Các. Ngày hôm đó nàng ngồi trong Phong Vũ Lang Đình nửa buổi, cuối cùng cũng nghĩ ra cách phá giải, di chuyển một quân cờ đá màu xanh trên bàn cờ.
Sau đó hai ba ngày nàng gần như đã quên mất chuyện này, sau đó thực sự quá buồn chán, muốn lần nữa lên Phong Vũ Lang Đình tự mình đối dịch. Lần này đi, lại phát hiện quân cờ đá trắng đối diện trên bàn đá cũng đã được người ta động vào, vừa vặn chính là bước đi tiếp theo mà đối phương nên đi sau khi nàng phá giải ván cờ lần trước.
Đây không nghi ngờ gì là một sự ngạc nhiên thú vị, Tề Xu nhìn bàn cờ trầm tư hồi lâu, lại di chuyển quân cờ xanh đi một bước.
Ngày hôm đó trở về nàng thầm vui vẻ, ngày thứ hai lại lên gian đình, quả nhiên thấy quân cờ trắng đối diện cũng đã đi một bước.
Trong liên tiếp nửa tháng sau đó, mỗi ngày nàng đều lên Phong Vũ Lang Đình một lần, chỉ để cách khoảng không cùng người nọ đánh một ván cờ. Có những khi nàng bị kỳ thuật của đối phương dồn vào thế bí, mấy ngày liền không nghĩ ra cách phá giải, đợi đến khi nàng cuối cùng cũng nghĩ ra nước đi, lại đi di chuyển quân cờ, cách một ngày, quân trắng đối diện lại lần nữa động đậy theo.
Cũng chính lúc đó, Tề Xu đột nhiên nảy sinh ý định muốn gặp người đang đánh cờ cùng mình.
Sáng sớm hôm sau nàng đã leo lên Phong Vũ Lang Đình, ngồi trong đình một mạch đến tận chiều tối, cũng không đợi được đối phương tới.
Nàng nghĩ có lẽ nước cờ nàng đi hôm qua quá hiểm hóc, đối phương vẫn chưa nghĩ ra cách phá giải? Hay là có việc bận nên không đến được?
Tề Xu lòng đầy thất vọng định xuống núi, lại thấy một lão tăng mặc áo xám bước trên ráng chiều nhạt nhòa đi tới, thấy nàng ngồi trong đình, lão tăng giơ tay hành một phật lễ: “A Di Đà Phật.”
Tề Xu vừa mừng rỡ, lại vừa có chút mất mát không nói nên lời, hỏi lão tăng: “Đại sư, hơn nửa tháng qua, đều là ngài đánh cờ cùng ta sao?”
Lão tăng gương mặt hiền từ mỉm cười gật đầu, thấy nàng đã đi một quân trên bàn đá, liền di chuyển một quân cờ trắng, chắp tay nói: “Lão nạp cũng không ngờ, người đánh cờ cùng lão nạp lại là một vị nữ thí chủ tuổi đời còn trẻ thế này.”
Tề Xu nghe vậy, trong lòng ngược lại cảm thấy thanh thản, đúng vậy, có thể ngày ngày ở trong chùa Quảng Lăng này thì chỉ có tăng nhân trong chùa, những hương khách khác làm sao có thể giống mẫu phi nàng, một lần lễ phật là cả mấy tháng trời.
Nước cờ nọ của lão tăng đi rất hiểm, Tề Xu nhất thời không nghĩ ra bước tiếp theo nên đi thế nào, thấy trời đã muộn, bèn tạm biệt lão tăng.
Đường từ Phong Vũ Lang Đình xuống núi có nhiều lối, các lối khác nhau dẫn đến các đại điện và khách viện khác nhau ở chân núi.
Tề Xu dọc theo con đường thường đi được không bao xa, trong đầu chợt lóe lên linh quang nghĩ ra cách phá giải, vội vàng gấp rút quay lại, muốn cùng lão tăng đi thêm một bước cờ.
Phong Vũ Lang Đình xây trên vách đá cô độc, khi chưa lên đến đỉnh núi, ở phía dưới bậc đá chỉ có thể nhìn thấy những tảng đá kỳ quái và một góc mái hiên ẩn hiện trong bóng râm rậm rạp.
Tề Xu nghe thấy tiếng trò chuyện từ trong đình trên đỉnh đầu truyền đến.
“… Lão nạp đã theo lời ủy thác của Công Tôn tiểu hữu, để nữ thí chủ nọ mãn nguyện rời đi rồi.” Đó là giọng nói của vị lão tăng gặp lúc nãy.
Đôi chân Tề Xu như bị đóng đinh tại chỗ, nhịp tim đột nhiên trở nên cực nhanh.
“Đa tạ đại sư.”
Ngay sau đó vang lên một giọng nam tử trẻ tuổi, vô cùng ôn hòa, giống như làn gió mùa xuân thổi qua sân, ấm áp nhưng lại khiến người ta không thể nắm bắt được.
Lão tăng khẽ thở dài: “Lão nạp quan sát thấy nữ thí chủ nọ tú ngoại tuệ trung, kỳ nghệ Tượng hí giỏi giang, hai người tại gian đình này nhờ một bàn cờ tàn mà kết duyên, nghĩ lại trong mệnh là có ràng buộc, Công Tôn tiểu hữu hà cớ gì phải chặt đứt đoạn duyên phận này?”
Nam tử nọ cười nói: “Ngân chẳng qua chỉ là một kẻ nhàn tản tự tại, đôi bàn tay trắng, sao dám làm lỡ dở giai nhân? Trước đó cũng chưa từng liệu đến, người đối dịch với Ngân lại là một cô nương gia.”
Nam tử nọ và lão tăng còn nói thêm gì đó, Tề Xu đã không nghe rõ nữa, chỉ khi hai người rời đi, nàng dẫn theo tì nữ đi cùng trốn sau tảng đá kỳ quái, đợi hai người đi xa mới dám lén nhìn người nam tử trong đình lúc trước một cái.
Ráng chiều đỏ rực như thiêu như đốt, nửa ngọn núi khóa lên lụa hồng, người nam tử đi sóng vai cùng lão tăng kia, áo bào trắng hơn tuyết, tay áo rộng đón gió, dưới ánh nắng chiều trông giống như tiên nhân vậy.
Tề Xu ngơ ngẩn nhìn bóng lưng ấy, nhịp tim chưa bao giờ đập nhanh đến thế.
–
Lão tăng gọi hắn là Công Tôn tiểu hữu, hắn tự xưng là Ngân.
Ở vùng đất Hà Gian, muốn tìm một người họ Công Tôn thực sự không khó.
Hà Gian Công Tôn gia là một danh gia vọng tộc trăm năm, dù tộc nhân trăm năm không ra làm quan, Công Tôn thị vẫn là đại tộc đứng đầu Hà Gian. Thư viện Lộc Nguyên do họ sáng lập thậm chí có thể sánh ngang với thư viện Tung Sơn, nơi được mệnh danh là thư viện số một thiên hạ.
Tề Xu nhanh chóng dò hỏi được Công Tôn Ngân là người phương nào, đích Trưởng tôn của Công Tôn thị Hà Gian, lão phu nhân nhà Công Tôn mỗi năm vào tháng Ba đều đến chùa Quảng Lăng lễ phật hơn một tháng, hắn chuyến đi này là đi cùng tổ mẫu của mình.
An Thái hoàng thái phi vốn luôn khiêm tốn, vào chùa lễ phật cũng không để trụ trì đóng cửa chùa ngăn cản các hương khách khác, thậm chí còn từng cùng Công Tôn lão phu nhân đàm luận phật pháp.
Tề Xu tuy chưa chính thức gặp Công Tôn Ngân, nhưng đã nghe được rất nhiều lời đồn đại về hắn.
Nghe nói hắn từ nhỏ thiên tư hơn người, ba tuổi đã học vỡ lòng, năm tuổi học xong Tứ Thư Ngũ Kinh, bảy tuổi đã có thể xuất khẩu thành chương, ai nấy đều xưng tụng hắn là một hiền tài của Hà Gian.
Những thơ từ ca phú của hắn được người đời truyền tụng, Tề Xu cũng tìm đến để nghiền ngẫm, càng hiểu rõ những điều này, Tề Xu lại càng muốn làm quen với hắn.
Trong mông lung, nàng đã đem lòng yêu người đánh cờ cùng mình.
Bây giờ bóng hình ấy dần trở nên rõ nét, nàng đã biết hắn tên là Công Tôn Ngân.
Hắn chắc cũng không biết mình trông như thế nào đâu nhỉ? Ngày hôm đó ở trong đình, hắn chỉ từ xa nhìn thấy bóng lưng của một nữ tử liền rời đi, sau đó đi nhờ vả tăng nhân trong chùa đến gặp mình.
–
Một tháng sau, thư viện Lộc Nguyên khai giảng, Tề Xu thưa với mẫu phi rằng muốn về ngoại tổ gia, An Thái hoàng thái phi biết nữ nhi là người không chịu ngồi yên, giam lỏng nàng trên núi hơn một tháng đã là điều hiếm có rồi, nên đã chuẩn bị cho nàng về An gia.
Nhưng Tề Xu không hề ngoan ngoãn ở lại An gia, An tri phủ có một đứa nhi tử không ra gì là An Húc, bản tính không xấu, việc lớn cũng không phạm phải, nhưng suốt ngày chỉ biết chơi bời lêu lổng, không chịu học hành, An tri phủ phải muối mặt mới xin được cho hắn ta một suất vào học ở thư viện Lộc Nguyên, nhưng đứa nhi tử của ông ta chỉ muốn trốn học.
Tề Xu nghe danh Công Tôn Ngân cũng ở thư viện Lộc Nguyên, bèn nảy ra một kế, cùng người biểu ca không ra gì kia diễn một vở kịch mạo danh thế thân.
Nàng cải nam trang thay An Húc đến thư viện Lộc Nguyên đi học, An Húc giả vờ nói nàng đã đi chơi ở thôn trang, từ đó giúp nàng đối phó với người An gia và phía Thái hoàng thái phi bên kia.
Tề Xu tuy giỏi Tượng hí, nhưng về thi văn so với những học tử khổ luyện mười năm đèn sách thì vẫn còn kém cạnh, cũng may An Húc vốn là kẻ rỗng tuếch, bài kiểm tra nhập học nàng cũng có thể miễn cưỡng đối phó qua được.
Tất cả học trò ở thư viện Lộc Nguyên đều ở lại trong thư viện, đa số là hai người một phòng, nếu bỏ đủ bạc thì cũng có thể ở một mình một phòng, Tề Xu đương nhiên không tiếc tiền bạc của mình, thành công kiếm được cho mình một căn phòng độc lập.
Tất cả học tử trong thư viện được chia thành ba khu giảng dạy là “Ngoại xá”, “Nội xá” và “Thượng xá”.
Có lẽ là do An tri phủ đã chào hỏi trước với các phu tử trong thư viện, An Húc một kẻ ngực không có một chữ mà lại được sắp xếp vào “Thượng xá”.
Học trờ ở đây đa số đều là những hạng thanh cao, đối với những học trò dựa vào quyền thế gia đình hoặc dùng bạc để vào đây vốn dĩ luôn chẳng có sắc mặt tốt đẹp gì, ngày đầu tiên Tề Xu đến nghe giảng đã nhận được không ít ánh mắt giễu cợt.
Tề Xu không quan tâm, nhìn quanh một vòng, chỉ để tìm bóng lưng đã thấy ở Phong Vũ Lang Đình ngày hôm đó.
Nhưng nhìn khắp cả lớp học cũng không thấy một bóng lưng nào tương tự, Tề Xu ngay lập tức nhíu chặt lông mày.
Có một đứa nhi tử béo của nhà phú thương nọ, cũng giống như An Húc là được nhét vào đây, các phu tử sắp xếp cho hắn ta làm bạn cùng bàn với Tề Xu. Tên bé cũng tự cho rằng mình và nàng cùng một hạng người, thấy Tề Xu lén nhìn quanh liền dùng cán bút lông chọc chọc vào cánh tay nàng: “An huynh nhìn gì thế?”
Tề Xu nói: “Ta nghe nói… Trưởng tôn nhà Công Tôn, người được xưng là Hà Gian nhất hiền cũng ở Thượng xá, sao lại không thấy hắn?”
Tên béo rúc đầu xuống gầm bàn cắn một miếng đùi gà mang từ nhà ăn đến lúc sáng, mới để cái miệng đầy dầu mỡ giải thích với Tề Xu: “Huynh nói Ngân công tử sao? Học trò trong thư viện đều gọi hắn là ‘Tiểu phu tử’. Viện trưởng thư viện là bá công* của hắn, học vấn của hắn so với không ít phu tử trong viện cũng chẳng kém đâu. Tiết sau là của Hàn phu tử, hắn chắc là bị Hàn phu tử gọi đi giúp phê duyệt bài tập rồi.”
*bá công: ông bác.
Quả nhiên, khi lão bá gõ chuông gõ vang chiếc chuông treo trên cây hòe trong viện, tất cả học trò trong lớp đều ngồi ngay ngắn, ngay cả tên béo cũng không dám cắn miếng đùi gà giấu trong ngăn bàn nữa.
Tề Xu nhìn thấy ngoài cánh cửa mở rộng, hoa hòe tháng ba bị gió thổi bay lả tả dưới hành lang, bi bên cạnh phía sau một lão giả vẻ mặt uy nghiêm là một nam tử trẻ tuổi, trên áo bào trắng mạ một lớp ánh nắng nhạt, tay ôm một chồng cuốn dày, đốt ngón tay thon dài, gân tay rõ ràng, mày mắt thanh tú, khóe môi khẽ nhếch dường như mang theo ba phần ý cười.
Tề Xu ngơ ngẩn nhìn, chỉ cảm thấy trái tim tê dại một trận dữ dội.
Người đã cùng nàng đối dịch ở Phong Vũ Lang Đình suốt gần một tháng mới đi hết ván cờ tàn đó, hóa ra lại có dáng vẻ như thế này sao?
Có lẽ là do ánh mắt của nàng quá mức lộ liễu, Công Tôn Ngân sau khi bước vào lớp học, ánh mắt ôn hòa như nắng xuân liếc nhìn về phía nàng, ánh mắt khựng lại trong chốc lát, lông mày không để lại dấu vết mà nhíu lại một cái, sau đó mới như không có chuyện gì mà dời tầm mắt đi.
Tên béo khẽ nói với Tề Xu: “Huynh đừng nhìn Tiểu phu tử trông có vẻ hiền lành hòa nhã, gặp ai cũng là cười ba phần, bài tập mà rơi vào tay hắn thì hắn phê còn nghiêm khắc hơn cả phu tử, nếu mà bị điểm ‘Đinh’ thì thảm rồi!”
Tên béo vừa dứt lời, Tề Xu liền nghe thấy vị phu tử vẻ mặt nghiêm khắc cứng nhắc nọ nói: “Đề bài kiểm tra nhập học lão phu đã phê duyệt xong rồi, phàm là kẻ bị điểm ‘Đinh’, sau giờ học hãy đến Ngự Thư Lâu chép phạt ‘Viện quy’ hai mươi lần!”
Ông ta nói xong liền cầm lấy một tờ sớ từ trên cùng của xấp giấy, khi ngẩng đầu lên lần nữa, thần sắc rõ ràng càng thêm nghiêm khắc hơn: “An Húc, hạng Đinh!”
