Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 174: Ngoại Truyện Phần Lý Hoài An – Xuân Năm Sau, Hoa Đào Hoa Lý Khắp Núi Nở Rộ Rực Rỡ
Đầu năm Vĩnh Hòa thứ mười tám, hai đảng Lý, Ngụy mưu nghịch không thành, đều đã đền tội.
Trong tộc những kẻ bị phán trảm lập quyết thì tạm giam tại thiên lao đợi sau thu vấn trảm, kẻ bị lưu đày thì vào đầu tháng Ba đã do quan sai áp giải đến nơi lưu đày.
Lý gia phạm phải tội đại ác mưu nghịch, tính theo cửu tộc thì liên lụy cực rộng, trong đó không thiếu các loại quan hệ thông gia chằng chịt, quả thực đã bao quát cả nửa triều đình cùng rất nhiều đại nho đã cáo lão hồi hương.
Tân đế kế vị, để biểu thị lòng nhân đức nên đã đại xá thiên hạ, cuối cùng hai nhà mưu nghịch là Lý, Ngụy đều chỉ tru tam tộc, tức là một mạch huyết thân và thông gia, một mạch ngoại tộc và một mạch nội tộc.
Ngoài tam tộc, nhưng trong vòng cửu tộc, tất cả đều bị lưu đày ba ngàn dặm.
Lý Hoài An là tôn tử của Lý thái phó, nằm trong vòng ngũ tộc.
Sau khi y ở Kế Châu bị rơi vào tay Tạ Chinh thì vẫn luôn bị giam giữ, trong thời gian đó cũng chịu qua hình phạt, trông y chỉ như một văn nhân yếu ớt, nhưng miệng cực kỳ cứng cỏi, Công Tôn Ngân đích thân đi gài bẫy y hỏi chuyện, cũng không hỏi ra được gì.
Thuở ấy, y toàn thân đầy thương tích nằm trên đống rơm trong nhà lao, vì mùa đông giá rét, hơi thở thở ra đều thành một đoàn sương trắng.
Đối mặt với Công Tôn Ngân đến khuyên bảo, y chỉ cười khổ: “Tiên sinh danh tiếng vang xa, Hoài An đã sớm nghe danh, chỉ là không ngờ lần đầu gặp tiên sinh lại trong cảnh ngộ thế này.”
“Những gì Lý gia phạm phải là đại tội thập ác bất xá, thiên hạ này ai cũng có thể phỉ nhổ Lý gia, ai cũng có thể thêm một tay vào bức tường Lý gia đang lung lay sắp sụp đổ này một cái, nhưng Hoài An thì không thể. Hoài An được hưởng ân trạch của tộc nhân che chở suốt hơn hai mươi năm qua, nay tòa nhà Lý gia sắp sụp đổ, Hoài An có thể tan xương nát thịt dưới tổ kiến đã vỡ, chứ tuyệt đối không thể trở thành sức mạnh phá hủy cái tổ ấy. Hoài An tự biết mình là tội nhân, sau khi chết nguyện xuống địa ngục A Tỳ, chỉ mong tiên sinh… thành toàn.”
Công Tôn Ngân nhìn người mặc thanh bào chằng chịt những vết máu kia, chậm rãi nói: “Lý gia đã bỏ rơi ngươi, như vậy, có đáng không?”
Lý Hoài An mỉm cười đáp: “Ơn dưỡng dục hai mươi năm, đủ rồi.”
Y một lòng cầu chết, thân thể lại không cứng cáp như người luyện võ, rốt cuộc không thể tiếp tục dùng hình ép hỏi.
Sau khi Lý gia bị định tội, y mới được chuyển đến phòng giam của Đại Lý Tự.
Mùa xuân năm ấy, không lâu sau khi thiên tử kế vị, Lý Hoài An cùng với những người trong tộc ngoài tam tộc của Lý gia, bắt đầu bước đi trên con đường lưu đày.
Một nhóm người sinh ra đã cẩm y ngọc thực, khi bị tịch thu tài sản giam vào thiên lao thì tưởng trời đã sụp, đợi đến khi thực sự bước chân lên con đường lưu đày mới biết đau khổ trên thế gian này còn nhiều lắm, những gì họ từng nếm trải trước đây chẳng thấm thía vào đâu.
Quan sai khắc nghiệt, mỗi ngày đi bao nhiêu dặm đường đều có quy hoạch nghiêm ngặt, đi chậm sẽ bị ăn roi, những chiếc roi làm từ da không rõ loại gì, vì sử dụng quanh năm nên thậm chí còn bóng loáng, trúng một roi thì nửa bả vai có thể sưng lên một vệt dài, mấy ngày mới tan.
Lúc ở đại lao, đưa chút bạc cho ngục tốt thì còn được ăn một bữa ra hồn, trên đường lưu đày điều kiện có hạn, tiền riêng họ giấu giếm cơ bản cũng đã bị ngục tốt vắt kiệt khi còn ở trong lao, không lấy ra được bao nhiêu để hiếu kính quan sai, thức ăn mỗi ngày đều là màn thầu đen cứng đến mức gần như không cắn nổi, đa số thời gian còn không được ăn no.
Chỉ qua mấy ngày, những người tộc Lý thị bị lưu đày ai nấy đều gầy đi một vòng, thần sắc tiều tụy, dáng vẻ hốc hác, không còn chút bóng dáng thân vàng thể ngọc của ngày xưa.
Trẻ thơ tuổi nhỏ, không đi được đường xa, suốt dọc đường đều do người lớn thay phiên nhau cõng.
Giày dưới chân mòn rách không có đôi mới, nhiều ngày đi đường liên tục, chân Lý Hoài An đã mọc lên mấy nốt mụn máu, huống chi là những nữ quyến cùng bị lưu đày.
Y tận mắt nhìn thấy mấy chất nhi tuổi nhỏ lần lượt ngã bệnh, nhưng lại lực bất tòng tâm.
Trên người y đã không còn lấy một đồng xu, muốn thuyết phục những người trong tộc còn giấu tiền riêng góp lại chút tiền thuốc cho bọn trẻ, nhưng nhận được chỉ là một loạt tiếng kể khổ và chửi rủa.
Người thân của Lý thái phó đều bị phán chém đầu sau thu, Lý Hoài An, trưởng tôn của Lý gia này, trở thành dòng chính duy nhất của Lý gia, tất cả những bàng chi bị liên lụy và người thân ngoài ngũ tộc, vốn dĩ từng dựa dẫm vào cái cây đại thụ Lý gia, nay cây đã bị nhổ tận gốc, đối mặt với kết cục tịch thu gia sản lưu đày, không một ai không chửi bới oán hận Lý gia.
Khi Lý Hoài An quỳ trên đất dập đầu, cầu xin người thân trong tộc góp tiền riêng cứu chất nhi đang sốt cao không dứt, đã bị nhổ nước bọt, cũng bị những người thân mang lòng oán hận với dòng chính Lý gia đấm đá túi bụi.
Nếu không phải quan sai kịp thời ngăn cản, e là Lý Hoài An cũng phải bị thương đến mức mấy ngày không đi nổi đường.
Trong cái đêm xuân se lạnh ấy, y đem chiếc áo bông rách duy nhất trên người quấn cho đứa chất nhi đang sốt cao đến mê sảng để giữ ấm, tự mình ôm lấy chất nhi tựa vào cánh cửa rách nát của trạm dịch, nhìn lên bầu trời đêm đen kịt ngoài khe cửa mà thẫn thờ.
Tiểu chất nhi rúc trong lòng y, rõ ràng hai má đã sốt đến đỏ bừng, nhưng vẫn cứ luôn miệng kêu lạnh.
Lý Hoài An phí công quấn chặt thêm chiếc áo rách cho chất nhi, môi y đã đông cứng đến xanh mét, dưới lớp áo đơn thậm chí có thể thấy xương bả vai nhô lên, gầy guộc như một cây trúc sắp khô héo, y vỗ nhẹ lên lưng chất nhi, thấp giọng an ủi.
Đứa nhỏ yếu ớt hé mắt, hỏi y: “Tiểu thúc đang nhìn gì vậy?”
Giọng Lý Hoài An khản đặc: “Đang nhìn tội nghiệt của Lý gia.”
Tiếng đứa nhỏ yếu ớt như tiếng mèo con sắp chết, mí mắt cũng từ từ khép lại: “Đó là gì ạ?”
Lòng Lý Hoài An thắt lại, cổ họng đắng ngắt, nhìn màn đêm đau đớn nói: “Lý gia từng làm sai rất nhiều việc, hại chết rất nhiều người vô tội, tiểu thúc đang nghĩ, những dân chúng tầm thường vì Lý gia mà gặp nạn, khi trải qua cảnh sinh ly tử biệt, liệu có phải cũng thê lương không nơi nương tựa thế này không…”
Y có chút không nói tiếp được nữa, khi cúi đầu xuống, phát hiện chất nhi trong lòng đã tắt thở, rốt cuộc không thể ức chế nổi nỗi bi thương trong lòng, vùi đầu trước ngực chất nhi, “hu” một tiếng khóc thành lời.
“Kẻ đáng chết là ta… kẻ đáng chịu báo ứng là ta mà…”
Đêm đó trong phòng củi của trạm dịch, liên tục truyền ra tiếng khóc đứt quãng bị nén đến cực điểm.
Sau khi tiểu chất nhi mất đi, Lý Hoài An cũng lâm một hồi bệnh nặng.
Quả thực là gầy guộc xương cốt, hai mắt vô thần, không còn nhìn thấy chút bóng dáng nào của vị Lý công tử thanh quý đoan nhã năm xưa nữa.
Quan sai áp giải đám phạm nhân lưu đày này đều tưởng y sẽ không trụ nổi, nhưng Lý Hoài An lại kỳ tích sống sót, còn đi bộ suốt quãng đường đến Túc Châu.
Y trở nên ít nói, bình thường cả ngày không thấy y nói với ai câu nào.
Nhưng y lại âm thầm làm rất nhiều việc, phạm nhân lưu đày tự thân ăn uống còn không đủ, mọi người để tránh bị đói, một cái màn thầu cũng phải bẻ làm đôi, giữ một nửa nhét vào lòng đợi đến khi đói không chịu nổi mới ăn.
Trên đường lưu đày y gặp những đứa trẻ ăn xin, thường đem nửa cái màn thầu mình cũng không nỡ ăn bố thí cho đám trẻ ăn xin.
Thỉnh thoảng gặp đứa nào gan dạ dám nói với y vài câu, y còn dạy đối phương vài chữ, thậm chí cũng từng đặt tên cho vài đứa trẻ ăn xin.
Quan sai đi cùng và các phạm nhân lưu đày chỉ coi y như một trò cười, cảm thấy y đúng là Bồ Tát bùn qua sông, bản thân còn khó bảo tàn, còn có tâm trí đi thương hại những kẻ ăn xin đó.
Lý Hoài An không bao giờ giải thích gì, chỉ vẫn cố chấp làm những việc ấy.
Có người trong tộc thấy y luôn thừa lại nửa cái màn thầu để dành bố thí cho ăn xin ở nơi kế tiếp, liền dứt khoát cướp luôn của y.
Y bị đánh một trận, khi ra bờ sông rửa vết máu trên mặt, quan sai canh giữ y nhìn không lọt mắt bộ dạng bình thản này của y, bèn lên tiếng mỉa mai: “Lý đại công tử, ngươi tự mình đã sa sút đến nước này rồi, còn làm bộ nhân nghĩa cho ai xem chứ? Chẳng lẽ vụ tham ô trong nạn hạn hán Quan Trung, lũ lụt Giang Nam năm đó, cùng với huyết án Lư Thành cấu kết với phản tặc, đều không phải do Lý gia các ngươi một tay thúc đẩy hay sao?”
Tiếng nước róc rách, Lý Hoài An nhìn hình bóng mờ ảo của mình trong dòng nước, mái tóc bẩn rũ xuống che đi thần sắc hơi đắng chát trên mặt: “Quan gia nói không sai, tội của Lý gia liên quan đến tính mạng của hàng vạn bách tính, chuộc không hết được. Nhưng tội dân trong lòng hổ thẹn, so với việc chết đi là xong hết mọi chuyện, vẫn muốn làm chút việc vì những dân chúng từng bị Lý gia phụ bạc, để đền đáp tội nghiệt.”
Quan sai nghe y nói vậy, trước tiên là ngẩn ra, sau đó liền cười nhạo một tiếng.
Nhưng Lý Hoài An đối với những tiếng giễu cợt này luôn không có phản ứng gì, chỉ lẳng lặng làm việc của mình, lúc đầu quan sai và phạm nhân đi cùng còn coi y là niềm vui, sau này không biết có phải vì thấy phản ứng của y quá vô vị hay không, nên cũng lười dùng những lời đó để đâm chọc y nữa.
Kiếp lưu đày gian khổ, đôi giày vải dưới chân Lý Hoài An khi rời kinh chưa đầy hai tháng đã rách nát đến mức hoàn toàn không thể đi được, y theo ông lão tạp dịch trong trạm dịch học được cách bện giày cỏ, đôi chân vốn đã quen đi ủng gấm kia, sau khi mọc mụn máu rồi đến một tầng một tầng vết chai dày, giờ đây đi giày cỏ cũng không thấy châm chích nữa.
Đôi bàn tay từng cầm bút vẽ tranh ấy, cũng sớm đã thô ráp nứt nẻ không ra hình thù.
Suốt quãng đường này, y cũng từng bện giày cỏ cho không ít người trong tộc đi cùng.
Nhưng vào tháng Chạp năm ấy, khi tộc nhân Lý thị cuối cùng cũng đến được Túc Châu, hơn trăm miệng ăn lúc đi, số người sống sót vẫn ít ỏi đến đáng thương.
Đây chính là cái gọi là “tội chết có thể miễn, tội sống khó tha” của việc lưu đày.
Túc Châu nằm ở biên giới phía Tây vùng Tây Bắc, hoang vắng lạnh lẽo khủng khiếp, nhìn ra bốn phía đâu đâu cũng là hoang mạc, chỉ ở những nơi có nguồn nước mới đắp đất vàng thành thành trì, tụ tập dân cư.
Trong thành đa số đều là binh lính trấn thủ biên cương và phạm nhân bị lưu đày đến, người bản địa ở lại vùng đất khổ hàn này cực kỳ ít ỏi.
Tân đế kế vị, Vũ An Hầu trấn thủ quan ngoại hồi kinh phò tá ấu đế làm Nhiếp chính vương, đám man tộc quan ngoại lại rục rịch.
Biên thành Túc Châu sau vài lần bị man tộc quấy nhiễu, tướng thủ thành hạ lệnh gia cố phòng thủ trước, nhóm phạm nhân lưu đày mới đến Túc Châu như Lý Hoài An liền bị lùa đi xây tường thành.
Lý Hoài An là một thư sinh trói gà không chặt, tay không thể xách vai không thể nâng, ngay ngày đầu tiên đi đã bị ăn một trận roi tơi tả, lưng đầy vết roi, ngày thứ hai vẫn phải bị lùa dậy đi xây tường phòng thủ thành.
Tấm lưng gầy gò không gánh nổi những viên gạch đá dày nặng trĩu ấy, sơ suất ngã xuống đất, làm mẻ một viên gạch, quan binh giám sát liền hận không thể ăn tươi nuốt sống y, roi rơi xuống xối xả, những chỗ bị đánh trúng như bị bò cạp độc đốt, đau rát.
Rất nhiều lần Lý Hoài An nghi ngờ mình sẽ bị đánh chết ở đây, nhưng trong lòng y không trỗi dậy một chút oán hận nào.
Đêm đông lạnh lẽo khi chất chi bệnh chết kia, y đột nhiên hiểu được những dân chúng bình thường vì mưu kế của Lý gia mà tan cửa nát nhà, năm đó đã vô vọng đến nhường nào.
Nhiều nỗi khổ trên thế gian này, rốt cuộc phải đích thân nếm trải rồi mới hiểu được là vị gì.
Cái khổ cái mệt của việc xây tường thành, so với việc khi thành bị phá mà chết dưới loạn đao cùng vó ngựa, thì lại chẳng đáng là bao.
Nhưng chính cái địa ngục trần gian là chiến tranh ấy, Lý gia thậm chí đã từng đích thân thao túng một trận.
Năm xưa Lý Hoài An với tư cách giám quân đã từng ra tiền tuyến đốc chiến, y đã thấy qua những cảnh tượng tàn khốc đó, trong lòng cũng từng thương xót dao động, nhưng nghĩ đến lời tổ phụ nói, lật đổ Ngụy Nghiêm là để cho nhiều bách tính thiên hạ hơn có được cuộc sống tốt đẹp, y lại thờ ơ lạnh nhạt.
Giờ đây kẻ xây từng viên gạch hòn đá này lại là chính mình, cuối cùng y cũng đã thấu hiểu những dân chúng và tướng sĩ bị Lý gia lạnh lùng hy sinh, đã phải trải qua những đau khổ cùng giãy giụa thế nào.
Cũng hiểu được sự phẫn nộ của Phàn Trường Ngọc và Tạ Chinh khi biết hết thảy đều do Lý gia bày mưu tính kế.
Họ một người đến từ tầng lớp thấp nhất trong dân gian, một người từ thời thiếu niên đã vào trong quân ngũ, không ai hiểu rõ hơn họ rằng, những dân chúng lẫn quân tốt ở tầng lớp dưới, đã sống những ngày tháng như thế nào.
Mưu kế của Lý gia, lại dễ dàng phá hủy biết bao gia đình đang khổ sở chống chọi.
Càng hiểu rõ những điều này, ngọn núi tội nghiệt trên người Lý Hoài An càng đè nặng hơn.
Rốt cuộc là y đã tỉnh ngộ quá muộn.
Chết ở đây không xoa dịu được một phần vạn tội nghiệt trong lòng y, nhưng lại là chốn về tốt nhất của y.
Nhưng chung quy y vẫn chưa chết được.
Tiểu tướng giữ thành nghe nói y là tôn tử của Lý thái phó, tuy đối với y luôn soi mói bắt bẻ, nhưng xét thấy cả biên thành này người biết chữ chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nên ngoài việc xây đắp tuyết thủ thành, y cũng bị gọi đi chỉnh lý danh sách phạm nhân lưu đày cùng quân tốt cấp dưới.
Tiểu đầu mục trông có vẻ cao lớn thô kệch, tính tình cực kỳ không tốt kia nói: “Ngươi lo mà chỉnh lý cho tốt những danh sách này, những người đã vào tay lão tử, bất kể là quân tốt hay tội nhân, chỉ cần là người chết trên thành lầu khi quân man di đến, đều có tư cách được ghi nhớ tên tuổi!”
Sau khi trải qua những khổ cực trên đường lưu đày, Lý Hoài An tưởng rằng đáy lòng mình sẽ không còn chút xúc động nào nữa, vậy mà vì lời nói này của tiểu đầu mục, một luồng nghẹn ngào và kính trọng từ lồng ngực xông thẳng lên cổ họng.
Y trịnh trọng cúi người chào tiểu đầu mục, khi cúi đầu xuống hốc mắt đã ươn ướt: “Tội dân, nhất định không nhục mệnh.”
Đó là sự hổ thẹn.
Một trận chiến Lư Thành, mưu kế của Lý gia đã hại chết không biết bao nhiêu tướng quân lẫn quân tốt như vậy.
–
Đầu năm Vĩnh Hưng thứ hai, biên thành Túc Châu hứng chịu một trận tập kích của địch, đó là lần đầu tiên Lý Hoài An đối mặt trực tiếp với lưỡi đao lạnh lẽo và gương mặt gầm rú hung tợn của quân man di, quả thực tay chân tê dại bủn rủn, cả người đờ ra ngay tại trên thành lầu, không biết chạy, cũng không biết cầm đao, mặc cho tiểu đầu mục thủ thành gào rách cổ họng, những người lưu đày như bọn họ cũng không thể nhúc nhích được mảy may.
Máu bắn tung tóe khắp nơi như mưa, người giây trước còn sống sờ sờ, giây sau đã biến thành một xác chết dưới lưỡi đao.
Phòng tuyến thủ thành chưa hoàn công không ngăn nổi đà tấn công mãnh liệt của tặc man, tiểu đầu mục tính tình nóng nảy kia cuối cùng thấy tòa thành nhỏ biên thùy đắp bằng đất vàng không giữ nổi nữa, liền gầm thét bắt quân tốt phía dưới làm lá chắn, để những người còn lại đưa dân chúng rút về thành Túc Châu phía sau.
Trận đột kích cuối cùng đó, nhờ quân viện trợ Túc Châu đến kịp thời, quân man sau khi đánh hạ tòa thành nhỏ biên thùy đó cũng không dừng lại lâu, sau khi vơ vét chút tiền bạc lương thực liền rút lui.
Nhưng tiểu đầu mục thủ thành đó đã chết trên thành lầu, viên quan binh năm đó khi xây phòng tuyến thủ thành đã quất roi vào Lý Hoài An cũng tử trận dưới cổng thành, còn có rất nhiều, rất nhiều quân tốt mà Lý Hoài An quen mặt hoặc không quen mặt, họ đã dùng tính mạng để kéo dài thời gian cho đến khi viện quân Túc Châu tới.
Kể từ cái đêm đông đứa chất nhi bệnh chết trên đường lưu đày, Lý Hoài An lại một lần nữa khóc không thành tiếng.
Lần này không phải vì quan hệ huyết thống, mà là vì những bộ xương cốt trung liệt đầy đất.
Y không chỉ có sự hổ thẹn, mà còn chưa bao giờ hối hận về những hành vi trước kia của mình như lúc này.
Sự yên ổn mà vô số tướng sĩ phải dùng mạng mới giữ vững được này, sao có thể vì sự nội đấu trong triều đình mà lại khơi mào tranh chấp?
Y ở trong trận chiến này, bị man di chém què một chân, nhưng đã cứu được một đứa trẻ sơ sinh cho một dân phụ.
Dân phụ đã chết dưới đao man di, trước khi chết chỉ nói với y rằng, phụ thân đứa trẻ ở trong quân, họ Trình.
Sau đó viện quân đến, Lý Hoài An bảo vệ đứa trẻ nhặt lại được một mạng, khi tìm phụ thân đứa trẻ trong quân mới biết, phụ thân của đứa trẻ cũng đã hy sinh trên thành lầu.
Đứa trẻ trở thành cô nhi.
Lý Hoài An nhận nuôi đứa trẻ, đặt tên là Trình Lang.
Lang, nghĩa là thứ đá đẹp như ngọc.
Người ta đều nói quân tử như ngọc, y hy vọng đứa trẻ sau này có thể trưởng thành trở thành một chính nhân quân tử thật sự.
Dị động ở Bắc Quyết ngày càng thường xuyên, năm nay không chỉ Túc Châu, mà Cẩm Châu, Yến Châu cũng liên tục bị quấy nhiễu.
Khi vào thu, Đường Bồi Nghĩa mang ấn soái đến trấn áp dị tộc ngày càng hung hãn, Phàn Trường Ngọc đã được phong Đại tướng quân áp tải lương thảo theo sau.
Một lần nữa nghe thấy tin tức của Phàn Trường Ngọc, Lý Hoài An lại có cảm giác như đã cách mấy đời, nghe nói nàng và Tạ Chinh đã thành thân, Lý Hoài An sau khi lòng hơi đắng chát, thì chính là sự thanh thản.
Thế gian này, ngoại trừ Vũ An Hầu, quả thực y không nghĩ ra được người thứ hai có thể xứng với hùng tài của nàng.
Hai người đó, từ khi sinh ra đã bị số phận ràng buộc với nhau, quả thực mới là một đôi trời đất tạo nên.
Y ở tòa thành nhỏ biên thùy tại Túc Châu, giúp đỡ tiểu đầu mục thủ thành mới đến chỉnh lý văn thư và hiến kế xây dựng phòng tuyến thủ thành, vì lời nói của y có trọng lượng, kiến thức uyên thâm, mặc dù vẫn là thân phận tội nhân, tiểu đầu mục kia cũng phá lệ đề bạt y làm chủ bạ, thấy chân cẳng y không tốt nên cũng không bắt y phải làm những công việc nặng nhọc như xây phòng tuyến nữa.
Nhưng sau khi Lý Hoài An tạ ơn, mỗi ngày vẫn đều đặn đi ra cổng thành vác gạch, hoặc là phụ việc cho thợ thủ công.
Chỉ có khi thân tâm rã rời, y mới thấy an lòng được vài phần, mới cảm thấy mình đang chuộc tội.
Nhiều năm sau đó, y vẫn ở lại tòa thành nhỏ biên thùy ấy, tiễn đưa hết lớp tiểu tướng này đến lớp tiểu tướng khác được điều động tới, các tiểu tướng nhận được sự phò tá của y rất nhiều, trước khi đi đều muốn đưa y rời khỏi chốn biên thùy này, giữ y lại làm phụ tá lâu dài, nhưng đều bị Lý Hoài An khước từ.
Y nói, y là một tội nhân, đến đây là để chuộc tội.
Sau này chiến tranh kết thúc, vị nữ tướng quân một mình chống đỡ ở Tây Bắc suốt nhiều năm kia đã đánh lui vô số đợt tấn công của Bắc Quyết, thậm chí sau này người Bắc Quyết thấy cờ soái của nàng là không dám bén mảng tới phạm, nàng rốt cuộc cũng nhờ quân công mà được phong Hầu.
Biên thành không còn đánh nhau nữa, phòng tuyến thủ thành cũng đã xây xong, Lý Hoài An mở một tư thục trong mảnh vườn nông thôn đơn sơ của mình, không thu học phí, dạy trẻ nhỏ địa phương đọc sách viết chữ.
Vị nữ Hầu đó cùng phu Hầu của nàng cùng nhau rút lui khỏi triều đình khi thế lực đang lên, trở về Tây Bắc, cùng nhau canh giữ cửa ải lớn này của Đại Dận.
Túc Châu và Huy Châu chỉ cách nhau vài trăm dặm, nhưng Lý Hoài An chưa bao giờ gặp lại hai người đó nữa.
Y không còn mặt mũi nào để gặp lại cố nhân.
Nhưng y đã nghe rất nhiều về sự tích của hai người họ, nữ Hầu vào năm Vĩnh Hưng thứ sáu đã hạ sinh một đôi long phượng, đích trưởng nữ tên là Tạ Tòng Uẩn, đích tử tên là Mạnh Hành Xuyên.
Huyết mạch trung liệt của hai nhà chết oan trong vụ án Cẩm Châu năm xưa, sẽ vĩnh viễn được truyền lại.
Lý Hoài An còn nghe người ta nói, họ nhận nuôi rất nhiều trẻ mồ côi của các tướng sĩ, những đứa trẻ biết họ tên gốc thì giữ nguyên họ tên, những đứa trẻ không biết thì đổi sang họ Tạ, họ Phàn, họ Mạnh đều có, tất cả đều được nuôi dạy như con ruột.
…
Mười sáu năm sương gió chớp mắt trôi qua.
Lý Hoài An vừa đến tuổi bất hoặc* đã mang trọng bệnh trong người, hai bên thái dương bạc trắng không khác gì lão giả lục tuần.
*độ tuổi bốn mươi.
Ngày tuyết rơi liên miên, sau khi vào đông ông lại bị cảm phong hàn, nằm liệt giường nửa tháng cũng không thấy chuyển biến tốt.
Đứa trẻ được ông nhận nuôi năm xưa, giờ đã đến tuổi nhược quán.
Khi Trình Lang bưng nước vào lau mặt cho ông, ông bình thản và yếu ớt dặn dò hậu sự cho mình: “Sau khi ta đi, không cần phải lo liệu tang lễ cho ta, cứ ở sau núi chôn cất sơ sài là được.”
Vành mắt Trình Lang cay xè, giả vờ như không có chuyện gì nói: “Tiên sinh nói bậy gì vậy, chỉ là một trận phong hàn thôi, uống thêm mấy thang thuốc nữa là khỏe ngay.”
Lý Hoài An không cho Trình Lang gọi mình là nghĩa phụ, ông nói mình là một kẻ tội đồ, kiếp này còn sống đến bây giờ là để chuộc tội, chỉ bảo hắn gọi mình là tiên sinh.
“Cơ thể của chính mình, ta tự biết rõ… khụ khụ…” Một câu chưa nói xong, ông đã ho sặc sụa, dáng người gầy gò còng xuống, giống như một ngọn nến đã cháy hết sắp bị gió lạnh thổi tắt trong đêm dài.
Trình Lang vỗ lưng giúp ông thuận khí, nén vành mắt đỏ hoe nói: “Đầu xuân năm nay, trong thành còn có không ít trẻ nhỏ đều muốn đến chỗ tiên sinh để học vỡ lòng đó, tiên sinh thân thể còn cứng cáp, sẽ sớm khỏe lại thôi!”
Như sợ Lý Hoài An lại trối trăng hậu sự, hắn lại nói: “Hôm nay phủ thành chủ tiếp đón hai vị quý khách, một trong hai người tuy là nữ nhi, nhưng Lưu đại nhân đều gọi hai người họ là tiểu Hầu gia, đúng là chuyện lạ, chắc hẳn là người của Tạ gia ở Huy Châu rồi. Vị cô nương đó nghe Lưu đại nhân kể về sự tích tiên sinh suốt mười mấy năm nay luôn miễn học phí dạy học cho xóm giềng, còn nói hôm khác muốn tới thăm ngài…”
Trình Lang vẫn đang luyên thuyên kể về những gì mình thấy ở phủ thành chủ, nhưng Lý Hoài An đã không còn nghe rõ được gì nữa.
Bị lưu đày đến nơi khổ hàn này hai mươi năm, ông chưa từng gặp lại cố nhân lấy một lần, giờ đây thời gian chẳng còn bao lâu, trái lại con cái của cố nhân lại đến nơi này.
Trong lòng ông đầy rẫy vết thương và hổ thẹn, bỗng nhiên lại có một cảm giác rơi lệ thương cảm.
Chính vào lúc này, ngoài viện truyền đến tiếng gõ cửa.
“Lý phu tử có ở nhà không?”
Trình Lang đặt khăn trong tay xuống nhìn ra ngoài một cái: “Để ta đi mở cửa.”
Cửa viện mở ra, là người của phủ thành chủ cùng một nhóm thiếu nam thiếu nữ đứng bên ngoài, đôi tỷ đệ song sinh dẫn đầu kia Trình Lang đã thấy qua, chính là hai vị khách quý đã gặp qua một lần ở phủ thành chủ hôm nay.
Hai người tuy là tỷ đệ sinh đôi, nhưng dung mạo và tính tình lại không giống nhau.
Một người mặc kỵ trang màu đỏ tươi, mắt hạnh mũi quỳnh, rạng rỡ như ánh mặt trời, một người mặc kính trang màu đen, thanh tuyển nội liễm, thiếu niên lão thành.
Trình Lang tuy làm việc ở phủ thành chủ nhưng chưa bao giờ thấy nhân vật tôn quý như vậy, nhất thời không biết chào hỏi thế nào.
Công tử của phủ thành chủ vội nói: “Trình huynh, hôm nay sau khi huynh rời đi sớm, hai vị tiểu Hầu gia nghe nói tiên sinh bệnh nặng nên mới đặc biệt tới thăm tiên sinh.”
Vị thiếu nữ áo đỏ lập tức chắp tay: “Chưa báo trước đã tới, làm phiền rồi.”
Trình Lang vội nói không có, dẫn hai người vào viện.
Lý Hoài An trong phòng đã nghe thấy tiếng động bên ngoài, khi Trình Lang dẫn hai người vào phòng, nhìn thấy vị thiếu nữ rực rỡ trong bộ đồ đỏ kia, ông vẫn bàng hoàng ngẩn ngơ hồi lâu.
Quả thực giống hệt như vị nữ Hầu năm đó, hư đúc từ một khuôn ra vậy.
Thiếu nữ và thiếu niên hướng về phía Lý Hoài An chắp tay: “Quấy rầy lão tiên sinh rồi.”
Lý Hoài An chỉ nhìn họ mà cười, cười mãi, cười mãi, trong đôi mắt đã có chút đục ngầu liền hiện lên lệ quang, ông nói: “Tội của Lý gia, ta chuộc không hết rồi…”
Thiếu nữ dường như biết ông là ai, nói: “Họa năm đó không phải do một mình lão tiên sinh gây ra, lão tiên sinh ở lại nơi này hơn hai mươi năm, mỗi khi có chiến sự đều đến cổng thành đốc chiến hiến kế, nhiều năm qua dốc hết tâm huyết tìm kiếm đường giao thương cho bách tính trong thành, cũng dạy cho vô số học trò nghèo khó đọc sách biết chữ, công đức của lão tiên sinh không xóa được lỗi lầm trước đây của Lý gia, nhưng cũng có thể không thẹn với lòng rồi.”
Lý Hoài An nhìn về phía thiếu niên áo đen đứng cạnh thiếu nữ.
Đôi lông mày của thiếu niên cũng cực kỳ giống với vị Vũ Hầu đã uy trấn Bắc Quyết hơn hai mươi năm kia, hắn khẽ gật đầu với Lý Hoài An.
Lý Hoài An như thể thông qua họ mà nhìn thấy cố nhân, đôi mắt vẫn đẫm lệ, chỉ là lại cười lên, trong nụ cười mang theo sự giải thoát thanh thản.
Đêm đó, vị lão giả đã chuộc tội suốt nửa đời mình này, khóe miệng ngậm cười rời khỏi nhân thế.
Hậu sự theo di nguyện của ông đều làm đơn giản, dân chúng địa phương biết rõ sự sám hối và hổ thẹn suốt nửa đời của ông nên cũng không ca ngợi công đức, chỉ có những học trò từng được ông giáo hóa, tại mảnh núi sau nơi ông an táng, mỗi người trồng một gốc đào hoặc gốc mận.
Xuân năm sau, hoa đào hoa lý trên khắp cả ngọn núi đua nhau nở rộ rực rỡ.
