Hình Bộ Thăng Chức Ký
Phần 2 – Chương 6: Phong Sư (2)
Tào Mãnh khẽ nhíu mày, nói: “Nhưng theo chỗ ta biết, Trình Thị lang không mấy hứng thú với nữ sắc. Trong phủ cũng chỉ có hai thiếp thất.”
“Ầy, chẳng phải vì không thích người trong nhà nên mới tìm đến Giáo Phường Ti đó sao. Vả lại, nghe nói Trình phu nhân là trưởng nữ của Dự châu mục Tề Hạc, một thân võ nghệ cao cường. Chuyện này thì đấng nam nhi nào mà chịu cho thấu?” Khương A Tài không để Tào Mãnh nghi ngờ thông tin của mình.
An Ảnh nghĩ Tào Mãnh dù sao cũng ở Trình phủ ba năm, sự hiểu biết về Trình Thị lang chắc chắn đáng tin hơn những lời đồn thổi của Khương A Tài, nên nàng hỏi: “Đúng rồi, ngày thường các ngươi cũng ở trong Thanh Huy Viên của Trình phủ sao?”
Tào Mãnh gật đầu đáp: “Ngày thường bọn ta đều ở trong sương phòng phía sau Thanh Huy Viên. Hằng ngày thì chép lại mấy bức tranh cổ mà Trình đại nhân sưu tầm. Nếu Trình đại nhân rảnh rỗi, bọn ta cùng nhau đàm đạo về họa kỹ.”
“Vậy ngươi nói cụ thể xem chuyện Trình đại nhân đuổi các ngươi đi là thế nào. Ngươi có cảm thấy họa sư nào đó đã tiết lộ chuyện mật riêng tư gì không?”
“Thật ra đến giờ ta cũng chẳng biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.” Tào Mãnh thở dài, “Khoảng thời gian đó ngày nào ta cũng ở một mình chép bức Minh Vương Hạnh Thục Đồ, chẳng hề quan tâm đến những người khác. Ta cũng không biết ba họa sư còn lại đang làm gì.”
An Ảnh cảm thấy vô cùng thất vọng, vốn nghĩ rằng Tào Mãnh ở Trình phủ ba năm chắc phải biết nhiều thứ hơn.
“Nhưng lúc bọn ta cùng bị đuổi đi, có một họa sư họ Lý ở cửa có nói rằng: Dạy được đồ đệ, chết đói sư phụ. Hắn đã dự liệu trước điều này rồi.”
“Ý ngươi là sao?”
Tào Mãnh ngẫm nghĩ một chút rồi nói: “Ta cũng không hiểu. Hay là ngươi đi hỏi chính người đó xem.”
An Ảnh kinh ngạc hỏi: “Ngươi biết họa sư đó đang ở đâu sao?”
Tào Mãnh có chút kỳ quái nói: “Biết chứ, hắn mở một cửa hàng bán màu vẽ ở phố Đông Tây của kinh thành, tên là Lý Ký.”
An Ảnh lấy giấy bút tùy thân ra ghi lại, quyết định sau đó sẽ đi hỏi cho rõ. Tào Mãnh này chắc là đầu óc chỉ toàn chuyện vẽ tranh, nhiều việc chẳng nắm bắt được gì. Nếu không thì các họa sư khác đều tự mở tiệm riêng, chỉ mỗi hắn ta là phải đi ăn cơm thừa ở tiệm trà.
Nàng hỏi tiếp: “Các ngươi có biết gì về chuyện của Tề Quốc công không? Nào, nói nghe xem.”
Khương A Tài vừa ăn xong ba cái bánh bao thịt, giờ đã no căng, hắn ta ngả người ra sau nói: “An đại tiểu thư, chuyện của Tề Quốc công thì có nói ba ngày ba đêm cũng không hết đâu.”
An Ảnh nghĩ cũng phải, thế gia trâm anh trăm năm, nhân khẩu các phòng thịnh vượng, quả thật kể ra thì chẳng có hồi kết.
“Chọn vài chuyện chưa từng nghe qua, hoặc có liên quan đến Trình Thị lang ấy.”
“Nói vậy thì đúng là có thật.” Khương A Tài gãi gãi bụng, “Trình Thị lang trước kia làm quan chức gì nhỉ? Dù sao cũng là quan ngũ lục phẩm. Chuyện này thì các ngươi không hiểu đâu, làm quan mà, muốn thăng tiến từ ngũ phẩm trở lên khó lắm thay. À này, An đại tiểu thư của chúng ta vẫn còn là một Tư trực tòng bát phẩm mà, xem cái miệng của ta này, cứ luyên thuyên mãi.”
An Ảnh mỉm cười lắc đầu: “Với cái chức quan nhỏ hạt mè như ta, chẳng đáng để nhắc tới.”
Khương A Tài nói tiếp: “Không biết bao nhiêu quan kinh thành ngũ lục phẩm cứ dậm chân tại chỗ ở cái chức vị này. Hoặc là xin ra ngoài làm quan địa phương, dứt khoát lập công trạng ở bên ngoài. Hoặc là tìm cửa nẻo. Nghe nói Trình đại nhân chính là nhờ vào con đường của Tề Quốc công.”
Tào Mãnh đang cắm cúi ăn bánh bao bỗng lên tiếng: “Ta từng gặp Tề Quốc công.”
An Ảnh suýt chút nữa phun cả ngụm cháo gạo ra ngoài, vị đại ca này lúc nào cũng thốt ra tin tức chấn động một cách bất thình lình.
“Họa kỹ của Tề Quốc công cao hơn Trình đại nhân rất nhiều. Có mấy lần Tề Quốc công đến Trình phủ đều cùng Trình đại nhân đàm đạo họa kỹ. Trình đại nhân đều bảo ta ở lại làm bạn.” Tào Mãnh nói: “Bởi vì Tề Quốc công cũng thích vẽ nhân vật. Mấy họa sư khác trong Trình phủ, một người chuyên về giới họa, một người chuyên về sơn thủy, còn một người thì chuyên về hoa điểu.”
An Ảnh ghi lại một đống thông tin vào sổ nhỏ. Đám người nhàn rỗi ăn xong liền giải tán.
Ban đêm, An Ảnh lại đào con dấu mã não từ khe gỗ ở đầu giường ra.
Thanh gươm Damocles treo lơ lửng trên đỉnh đầu nàng.
Nàng lại ôm lấy ý nghĩ may rủi, trên thế giới này không ai biết La Xảo Nương đã đưa cho nàng con dấu này, chỉ cần chính mình không nói ra, thì cứ để nó trở thành bí mật vĩnh viễn.
Có lẽ nó căn bản chẳng có bí mật gì cả, chỉ là một kỷ vật mà La Xảo Nương để lại?
An Ảnh lắc đầu, chắc là không đâu.
Thứ mà La Xảo Nương đã tốn bao nhiêu công sức mà lưu lại, ắt hẳn phải ẩn chứa ý sâu xa của bà ta.
Không biết Trần Đông đại nhân ở bên đó rốt cuộc đã điều tra ra được gì?
Sự tò mò trong đầu như con mèo cào cấu khiến gan ruột nàng ngứa ngáy không thôi.
Trong đầu suy nghĩ hết lần này đến lần khác, khó khăn lắm nàng mới mơ màng chìm vào giấc ngủ.
Ngày hôm sau, Tô Hoàng Triết dẫn đám An Ảnh đi tìm ngỗ tác Chu Nhất Quý.
Chu Nhất Quý đã làm ngỗ tác hơn ba mươi năm, phụ thân của ông ta cũng là ngỗ tác, đương nhiên nhi tử của ông ta sau này cũng sẽ làm ngỗ tác.
“Người có quyền có thế đúng là sướng thật. Khi sống thì sung sướng, đến lúc chết rồi cũng vẫn sung sướng.” Chu Nhất Quý chỉ vào vòng băng ở chân tường nói: “Quản gia Trình phủ đưa tới đó, cả đời này ta còn chưa từng dùng nhiều đá lạnh đến vậy.”
Chu Nhất Quý chỉ vào một thi thể bên cạnh nói: “Không chỉ ta được nhờ phúc của Trình đại nhân đâu, mà cả nữ thi vô danh này cũng được hưởng ké.”
“Này, chỗ ông đúng là lạnh thật đấy.” Vân Phàn xoa xoa cánh tay, “Nữ thi vô danh ở đâu ra thế?”
“Mới được đưa tới hôm qua, chết đuối dưới con kênh ngoài thành, sáng sớm được người làm việc trị thủy đưa tới. Không tên không họ không ai nhận, nếu không nhờ số đá lạnh của Trình đại nhân này, ta thấy hôm nay chắc đã bị chở ra nghĩa trang sau thành chôn rồi. Mấy người làm việc trị thủy cũng thật lương thiện, nữ thi còn nắm chặt một miếng ngọc bội trong tay, họ còn đặc biệt đưa tới. Đáng tiếc thật, không ai nhận.”
Chu Nhất Quý uống rượu, “Vân đại công tử có muốn làm chút không? Ha ha, cho ấm người.”
An Ảnh nhìn thi thể nằm trên bàn ở giữa, hơi ngạc nhiên: “Đây chính là Trình Thị lang sao?”
“Phải, sao thế?” Thấy vẻ mặt kinh ngạc của An Ảnh, Vân Phàn có chút khó hiểu, “Ngươi từng gặp rồi à?”
“À, chưa từng gặp. Hôm ở Trình phủ, nghe người hầu hạ thân cận nói ông ta rất hay ăn hay uống, cứ tưởng là một người béo.”
“Nghe nói ông ta quanh năm tập võ.” Tô Hoàng Triết hỏi: “Có phát hiện điểm gì bất thường không?”
“Trình phu nhân đưa đến bảo ta điều tra kỹ, nhà bà ta xuất thân tướng môn, từng lên chiến trường, chẳng có kiêng kỵ gì cả.” Chu Nhất Quý nói, “Trình Kỳ, bốn mươi hai tuổi, cao năm thước ba tấc. Trên người không có ngoại thương rõ rệt, chỉ có bàn chân bị lở loét nhẹ. Sắc mặt tím tái, đầu ngón tay trắng bệch. Ta đã dùng châm pháp và huân pháp để nghiệm, không hề có dấu hiệu trúng độc. Ta đã giải phẫu cơ thể, phát hiện kinh mạch tầng ngoài của tim có dấu hiệu vỡ.”
An Ảnh thấy đau đầu, việc khám nghiệm tử thi như thế này rất khó để nói rõ ràng vấn đề gì.
“Vậy rốt cuộc nguyên nhân gì khiến ông ta tử vong? Có cao thủ võ lâm nào chấn nát tim ông ta sao?” Vân Phàn cũng tỏ vẻ ngơ ngác.
“Cái này khó nói lắm, thường thì bị ngoại lực đánh mạnh vào mới như thế. Lúc đưa tới ông ta đã là vẻ mặt đầy đau đớn, một tay ôm ngực. Chắc là cơn đau dữ dội do tim vỡ gây ra.” Chu Nhất Quý nói: “Ta đã lật lại hàng ngàn bản ghi chép mà phụ thân và tổ phụ ta để lại. Trường hợp vỡ tim chỉ có ba ca, đều là do va chạm bởi ngoại lực.”
Chu Nhất Quý đưa qua các trường hợp đã chép lại, An Ảnh cầm xem qua loa, một trường hợp là do tranh chấp với người khác, bị đẩy ngã khỏi xe bò, đột tử; những trường hợp còn lại đều là do trong lúc tranh chấp bị đánh vào ngực dẫn đến đột tử.
Tô Hoàng Triết lắc đầu nói: “Bản thân Trình đại nhân võ công không thấp, hơn nữa cửa ngoài có thủ vệ, chỉ cần hô lên một tiếng là có người vào ngay. Không đến mức bị người ta đánh chết mà không một tiếng động. Đồ ăn thức uống đều đã nghiệm qua, cũng không có thuốc mê hay loại tương tự.”
“Vậy chúng ta có nên gọi tên Tiểu Đào kia tới thẩm vấn lại không? Nếu hắn cấu kết với người ngoài, thì mới có khả năng thực hiện vụ án này. Nếu không, bỏ qua hắn thì cơ bản không thể hoàn thành vụ án này được.”
