Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 72:
Thượng du Kế Châu.
Đập nước đã bị nổ phá, dòng nước vàng đục tràn qua lòng sông, mượn sức trận mưa rào, cuồn cuộn đổ về phía hạ du.
Mưa đổ như thác, doanh địa sau một trận huyết chiến chỉ còn lại đầy đất thi thể và một mảnh trầm mặc áp chế.
Những binh tốt còn sống sót đang dầm mưa dọn dẹp chiến trường, một lão giả cùng vị tướng quân chịu trách nhiệm xây dựng đập ngăn nước này cùng đứng trong màn mưa, nhìn dòng nước lũ gào thét lao đi và những tân binh đã tử trận trong đêm nay, trên mặt đều là một vẻ nặng nề không nói nên lời.
Hồi lâu sau, vị tướng lĩnh kia mới hỏi lão giả: “Thái phó, ngài nói xem, xả lũ xuống hạ du thế này, liệu còn có ích gì không?”
Người cùng Phàn Trường Ngọc bị vây hãm trong doanh địa này nhiều ngày qua, chính là Đào Thái phó đã từ quan quy ẩn nhiều năm.
Sợi mưa trượt dài theo mí mắt nhăn nheo của lão, lão chắp tay sau lưng, nhìn trời nói: “Cứ tận nhân lực, tri thiên mệnh thôi.”
Binh tốt dọn dẹp chiến trường phía trước bỗng nhiên dừng động tác, nhìn về một hướng phát ra tiếng bàn tán xôn xao, Đào Thái phó và chủ tướng doanh địa nhìn theo nguồn âm thanh, chỉ thấy một nữ tử cưỡi ngựa chậm rãi đi ra từ màn mưa u tối.
Trong tiếng sấm chớp rền vang, đợi khi nữ tử kia lại gần hơn một chút, mọi người mới nhìn rõ sau lưng nàng còn có mấy kỵ binh đi theo, đều mặc binh phục Kế Châu, trên lưng ngựa treo mấy cái thủ cấp đã bị nước mưa gột sạch vết máu.
Nữ tử đó chính là Phàn Trường Ngọc.
Đào Thái phó đại khái đã đoán được điều gì, ngước đôi mắt già nua nhìn đối diện với nàng, trong mắt có ba phần kinh ngạc, ba phần tán thưởng, còn có bốn phần đắc ý vì mình đã không nhìn lầm mầm non tốt.
Mấy kỵ binh đã đến trước mặt, binh tốt trên lưng ngựa nhảy xuống, quỳ trong màn mưa bẩm báo quân tình, nhưng trên mặt lại không giấu nổi vẻ vui mừng: “Tướng quân, chúng thuộc hạ đi truy sát ba tên trinh sát bỏ chạy kia, lại phát hiện bọn chúng đều đã bị vị cô nương này chặn giết! Chúng thuộc hạ liền mang thủ cấp của trinh sát về đây.”
Vị tướng lĩnh giám sát xây đập giật mình một cái, sau đó trên mặt lập tức đại hỷ, dầm mưa tiến lên vài bước, chắp tay với Phàn Trường Ngọc nói: “Nữ hiệp ngăn cản lũ phản tặc này về báo tin, chính là cứu vạn quân dân Lư thành chúng ta khỏi dầu sôi lửa bỏng, Đường mỗ thay mặt bách tính và tướng sĩ Lư Thành tạ ơn nữ hiệp.”
Phàn Trường Ngọc dắt một con chiến mã màu đỏ thẫm đoạt được từ tay trinh sát, nói: “Tướng quân khách khí rồi, dân nữ cũng là chịu sự ủy thác lúc lâm chung của vị tướng quân phía bên mỏ đá kia.”
Giọt mưa rơi xuống từ mí mắt vị tướng lĩnh, ông ấy thở dài một tiếng, đau đớn nói: “Đó là An Định Bắc An tướng quân.”
An Định Bắc? Phàn Trường Ngọc nghĩ, đây quả thực là một cái tên mà một đại tướng quân nên có.
Những tướng sĩ tử trận trong đêm mưa này, bất kể là tướng quân hay tiểu tốt, biết được trận sát phạt đêm nay rốt cuộc không uổng phí, có lẽ đều có thể an nghỉ rồi.
Nàng lần này đi theo trở về, chủ yếu là để lấy lại hành lý của mình, lúc trước nàng vì băng qua Vu Lĩnh để chặn giết ba tên trinh sát nên đã để hành lý trên lưng ngựa, khi quay lại chiến mã đã không còn ở chỗ cũ, nghĩ rằng ngựa già biết đường, đại để là đã chạy về quân doanh, nên nàng mới đi cùng đám kỵ binh truy sát trinh sát trở về doanh địa.
Sau vài câu chào hỏi ngắn ngủi, Phàn Trường Ngọc liền nói ra mục đích chuyến đi của mình, nhưng đêm nay thực sự quá hỗn loạn, cũng không ai để ý xem có phải có một con ngựa tự mình từ bên ngoài chạy về hay không.
Chủ tướng doanh địa sắp xếp cho Phàn Trường Ngọc một chiếc lều riêng, để nàng tạm thời chỉnh đốn, dặn dò thuộc hạ đi tìm đồ cho nàng.
Phàn Trường Ngọc vượt núi băng rừng trong đêm mưa, trên người quả thực bị va quẹt không ít chỗ, quần áo lại ướt đẫm, cũng cần phải thu dọn một chút, nên đã đáp lễ nhận lời.
Trong quân doanh không có quần áo phù hợp cho nàng mặc, chủ tướng lệnh người mang một bộ binh phục mới đến cho nàng, bộ binh phục đó là cỡ nhỏ nhất, Phàn Trường Ngọc mặc vào vừa vặn.
Nàng vừa thu dọn xong, không đợi được mà đích thân đi đến chuồng ngựa trong doanh địa tìm hành lý, Đào Thái phó đến tìm nàng đều hụt mất.
Đêm nay mưa như trút nước, dù đã truyền về tin thắng trận, trên dưới quân đội vẫn không rảnh để nghỉ ngơi, dọn dẹp chiến trường tìm kiếm thương binh, đào mộ huyệt chôn cất thống nhất các tướng sĩ tử trận…
Ngay cả phía chuồng ngựa cũng bận rộn đến tối mày tối mặt, có con chiến mã bị chém bị thương, có con khi tác chiến móng ngựa dẫm phải vật nhọn, thú y trong quân doanh cũng giống như quân y, bận đến mức nước cũng không kịp uống một ngụm.
Phàn Trường Ngọc đang hỏi một quan binh xem chiến mã của An tướng quân nhốt ở đâu, liền nghe thấy một giọng nói già nua mà quen thuộc: “Móng ngựa này bị dăm gỗ đâm vào rồi, đưa ta cái kìm đây.”
Phàn Trường Ngọc nghé mắt nhìn, vui mừng khôn xiết, vội gọi: “Triệu thúc!”
Thợ mộc Triệu đang xem vết thương cho một con chiến mã, chợt nghe thấy tiếng của Phàn Trường Ngọc, còn tưởng mình nghe nhầm, nheo đôi mắt già nua nhìn ra ngoài, khi nhìn rõ đúng là Phàn Trường Ngọc, cũng vui mừng khôn xiết, phát hiện nàng mặc bộ quần áo binh tốt, nhưng sắc mặt lại lập tức đại biến.
Ông chỉ huy tên quan binh đang giúp mình nhấc chân ngựa: “Ngươi đi lấy cái kìm đi.”
Sau khi quan binh rời đi, ông lại vẫy tay bảo Phàn Trường Ngọc tiến lên giúp đỡ, tiểu tốt dẫn Phàn Trường Ngọc đến chuồng ngựa định từ chối, nhưng Phàn Trường Ngọc nói nàng và thợ mộc Triệu là người cùng quê, đã niềm nở tiến lên nói chuyện.
Thợ mộc Triệu gần như sốt ruột đến đỏ cả mắt, mượn cớ để Phàn Trường Ngọc phụ giúp mà hạ thấp giọng hỏi nàng: “Sao cháu lại đến quân doanh? Nếu để người khác phát hiện cháu là phận nữ nhi, cái đó là bị chém đầu đấy!”
Phàn Trường Ngọc sau khi thay quần áo khô ráo, cũng tháo tóc ra lau một lượt rồi mới buộc lại.
Đây là quân doanh, nàng mặc một bộ đồ tiểu tốt, không tiện búi tóc kiểu cô nương gia, bèn tùy tiện buộc tóc lên, không phải cố ý nữ phẫn nam trang, nhưng giữa lông mày nàng mang theo một luồng anh khí, thoạt nhìn quả thực có chút giống một thiếu niên ngũ quan thanh tú.
Phàn Trường Ngọc thấy thợ mộc Triệu hiểu lầm, vội vàng đem những chuyện xảy ra trong những ngày qua tóm tắt nói lại một lượt.
Thợ mộc Triệu biết nàng không phải nữ phẫn nam trang tòng quân, mới buông lỏng trái tim đang treo lơ lửng, nhưng nghe nói huyện Thanh Bình bị sơn tặc đốt giết, bà bạn già của mình còn bị thương, trong lòng cũng cực kỳ khó chịu, liên tục đưa tay áo lên lau nước mắt.
Xử lý xong vết thương trên móng trước của con ngựa kia, hai người tạm thời tìm một chỗ trò chuyện.
Phàn Trường Ngọc hỏi: “Triệu thúc cũng bị điều đến đây sửa đập nước sao?”
Thợ mộc Triệu thở dài nói: “Ta vốn dĩ ở Lư Thành chế tạo khí giới phòng thủ thành, sau đó nghe nói Yến Châu muốn mượn quân hai vạn, cái thân già này của ta cũng bị đưa đi cùng, lặn lội mấy ngày, đại quân dừng chân tại đây ta mới biết là phải sửa đập nước. Trên đường đi chiến mã luôn có lúc đau ốm, lừa thồ đá móng thỉnh thoảng lại mắc kẹt đá sỏi, cũng cần người chữa, ta đến đây chủ yếu là để chữa bệnh cho súc vật.”
Phàn Trường Ngọc lúc trước bị quản thúc đi khai thác đất đá, cơ bản không đến vùng lõi quân doanh, thợ mộc Triệu cũng chưa từng đến doanh địa bên kia, lúc này mới không gặp mặt, trong lúc nhất thời cả hai đều thổn thức.
Phàn Trường Ngọc nhớ đến Ngôn Chính, lại hỏi một câu: “Vậy Triệu thúc vào quân doanh những ngày qua, có tin tức gì của Ngôn Chính không?”
Nhắc đến chuyện này, thợ mộc Triệu có chút do dự nhìn Phàn Trường Ngọc một cái rồi nói: “Hắn thuộc nhóm binh tốt đầu tiên bị mượn sang Yến Châu, những đồ cháu nhờ ta mang theo, ta đều nhờ người chuyển cho hắn rồi. Ta vốn tưởng hắn cũng ở đây sửa đập nước, nhưng dò hỏi mấy ngày nay, hình như hắn đã bị điều đi Yến Châu rồi.”
Yến Châu sát cạnh tiền tuyến, lại là giao thủ với người Bắc Quyết, từ một góc độ nào đó mà nói, còn nguy hiểm hơn ở Lư Thành.
Phàn Trường Ngọc im lặng một lát, nói: “Huynh ấy bản lĩnh đầy mình, chắc là có thể tự giành lấy cho mình một tiền đô tốt đẹp.”
Thợ mộc Triệu còn chưa biết trong hành lý đó có thư hòa ly, cười nói: “Hắn nếu có tiền đồ, nha đầu cháu cũng được hưởng phúc rồi.”
Phàn Trường Ngọc không định giấu thợ mộc Triệu chuyện mình và Ngôn Chính hòa ly nữa, mím môi nói: “Triệu thúc, thực ra cháu và huynh ấy đã hòa ly rồi.”
Thợ mộc Triệu đang bưng bát gốm thô uống nước nóng xua lạnh, nghe vậy suýt chút nữa làm rơi bát, ngước đôi mắt già nua nhăn nheo hỏi: “Chuyện là thế nào?”
Phàn Trường Ngọc thành thật nói: “Ban đầu việc ở rể vốn là giả, chỉ là để đối phó với Phàn Đại để giữ lại gia sản.”
Thợ mộc Triệu đặt bát nước xuống, im lặng một lúc lâu để tiêu hóa tin tức này, mới thở dài một tiếng nói: “Trường Ngọc này, ta nhìn đứa trẻ Ngôn Chính đó, đối với cháu cũng không giống như là vô ý. Phu thê trẻ tuổi thường hay nóng nảy, dễ đi đường vòng, sau này nếu còn có thể gặp lại, nên nói rõ ràng với nhau mới tốt, chớ để đến khi già rồi còn để lại một món nợ mơ hồ.”
Phàn Trường Ngọc nhớ lại ngày Ngôn Chính đi, chính mình cũng chưa nói với hắn được một câu tử tế, trong lòng cũng có chút không dễ chịu, cụp mắt vâng một tiếng.
Quan binh ngoài lều lại dắt đến một con chiến mã bị thương, hò hét bảo thợ mộc Triệu mau đi xem.
Phàn Trường Ngọc đã tìm được hành lý của mình, rảnh rỗi không có việc gì bèn đi giúp thợ mộc Triệu, phụ tá cho ông.
Đào Thái phó ở bên lều quân chờ mãi không thấy Phàn Trường Ngọc quay lại, đích thân đi tìm nàng thì thấy nàng chẳng hề ngại bẩn thỉu mà ở trong chuồng ngựa giúp một lão già thú y nhấc chân ngựa, cái vẻ nhiệt tình đó so với sự xa cách khi đối diện với mình quả thực là hai người khác hẳn.
Sắc mặt Đào Thái phó lập tức có chút khó coi, mình dạy nha đầu kia học này học nọ, nàng không chịu bái sư thì thôi đi, lại còn mắt kém đến mức quay đầu muốn học nghề với một ông già thú y sao?
Lão đứng ngoài chuồng ngựa ho khan mấy tiếng, ngặt nỗi chuồng ngựa ồn ào, lại có tiếng sấm, đã che lấp thành công tiếng ho của lão
Một người thú y khi đang nhổ mũi tên trên chân chiến mã, con ngựa đột nhiên kinh hãi, không những đá trúng tên thú y đó mà còn đâm sầm loạn xạ trong chuồng ngựa, làm đổ một cột gỗ của chuồng ngựa, khiến cả mái che chuồng ngựa sập xuống, nhất thời chiến mã đều kinh sợ điên cuồng chạy ra ngoài, quan binh muốn cản cũng không cản nổi.
Phàn Trường Ngọc nhanh tay lẹ mắt kéo thợ mộc Triệu chạy ra ngoài, tránh được mái che bị đổ, vừa ngẩng đầu lại thấy lão đầu kia cũng đang đứng ngây người ở cửa, lại có ngựa lao về phía đó, nàng không kịp suy nghĩ, vội lao tới nhấc bổng lão đầu kia đến chỗ trống trải.
Phàn Trường Ngọc đặt người xuống, chật vật quẹt nước mưa trên mặt, hỏi Đào Thái phó: “Sao ngài lại đến đây rồi?”
Thợ mộc Triệu hỏi: “Đây là?”
Phàn Trường Ngọc nói: “Đây chính là vị lão tiên sinh mà cháu đã kể với thúc, người cháu quen khi bị giữ lại đây khai thác đá.”
Đào Thái phó gần như là bị Phàn Trường Ngọc vác chạy như điên tới đây, lúc này trong dạ dày đảo lộn không nói, đầu óc cũng có chút choáng váng, vì giữ thể diện nên vội vàng chỉnh đốn vạt áo, hoàn toàn không muốn thèm để ý đến nàng.
Những con chiến mã kinh sợ đều đã được các quan binh huấn mã trấn an, còn dời tạm một quân lều gần đó để chữa trị cho những người bị thương.
Phàn Trường Ngọc định đỡ thợ mộc Triệu và Đào Thái phó qua đó trú mưa, vừa chạm vào cánh tay thợ mộc Triệu, lại khiến ông thốt lên một tiếng “Ái chà”.
Phàn Trường Ngọc vội hỏi: “Là vừa nãy bị cháu kéo đau sao?”
Thợ mộc Triệu xua tay: “Thân già này, không dùng được nữa, khớp xương thường cứ chạm vào là đau.”
Phàn Trường Ngọc biết rõ đại khái là do mình trong lúc cấp bách kéo quá mạnh nên mới khiến xương khớp người già bị bong gân, trong lòng áy náy, vào quân lều liền tìm một chiếc ghế cho thợ mộc Triệu ngồi.
Người thú y bị móng ngựa đá trúng đã được quan binh cứu ra, lúc này đang nằm trong lều quân nối xương, tiếng kêu thảm thiết và dữ dội, Phàn Trường Ngọc thấy có vẻ còn lâu mới băng bó xong cho ông ta, bèn bưng một chậu nước nóng, vắt khăn đắp lên cánh tay cho thợ mộc Triệu trước.
Đào Thái phó vào lều đứng nửa ngày, nhìn Phàn Trường Ngọc bận trước bận sau chăm sóc thợ mộc Triệu, mà mình hoàn toàn bị gạt sang một bên, cơ bản không có được đãi ngộ như thợ mộc Triệu, không vui đến mức ria mép đều trễ xuống.
Lão đi đến chiếc ghế đối diện thợ mộc Triệu ngồi xuống, cũng “Ái chà” một tiếng, âm thanh thậm chí còn át cả người thú y bị ngựa đá trúng kia.
Phàn Trường Ngọc bận rộn như con quay, nghe thấy tiếng liền quay đầu hỏi: “Ngài sao thế?”
Đào Thái phó nhắm mắt nói: “Lão phu đau đầu.”
Phàn Trường Ngọc nói: “Chắc chắn là dầm mưa bị nhiễm phong hàn rồi.”
Quay đầu lại nhờ vả quân y, bảo xem mạch bốc thuốc luôn cho Đào Thái phó.
Thân vệ đi cùng Đào Thái phó biết rõ thân phận thực sự của lão, căn bản không dám để lão có sơ suất, vội nói đưa lão về lều chính bên kia để mời quân y khám bệnh cho lão, ngặt nỗi Đào Thái phó chết sống không chịu đi.
Đợi đến khi quân y cuối cùng cũng đến bắt mạch cho Đào Thái phó, mới phát hiện lão đầu cố chấp này đã bắt đầu phát sốt, vội bảo tiểu tốt dưới trướng về lấy một gói thuốc trị phong hàn sắc lên.
Nhân thủ sắc thuốc không đủ, Phàn Trường Ngọc chủ động nhận việc sắc thuốc cho Thợ mộc Triệu và Đào Thái phó.
Bởi vì Đào Thái phó chết sống không chịu về lều quân riêng mà chủ tướng dành cho lão, nhất định cũng phải chen chúc trong lều thương binh, tiểu tốt phía dưới thấy lão và Thợ mộc Triệu đều là hai lão già, còn sắp xếp giường bệnh của họ ở cạnh nhau.
Con người thợ mộc Triệu tính tình hòa nhã, Đào Thái phó vì đau đầu nóng lạnh nên tính tình càng thêm cổ quái, thợ mộc Triệu chủ động bắt chuyện lão cũng không thèm đáp lời.
Lúc Phàn Trường Ngọc đi sắc thuốc, lão mới nhịn đau đầu nói: “Thuốc của lão phu nhất định phải sắc trước!”
Phàn Trường Ngọc chỉ thấy lão đầu này giống như một đứa trẻ, ngay cả chuyện này cũng phải tranh giành trước sau, bất đắc dĩ nói: “Hai cái nồi sắc cùng lúc, không có chuyện trước sau đâu.”
Đào Thái phó lúc này mới im bặt.
Thợ mộc Triệu hoàn toàn không nhận ra địch ý vu vơ của Đào Thái phó đối với mình, còn trò chuyện với Đào Thái phó: “Trường Ngọc rơi vào quân đội mà cũng có thể gặp được một vị phu tử, là phúc khí của con bé, cũng là nhờ lão tiên sinh sẵn lòng kết thiện duyên này.”
Đào Thái phó nghe những lời này, trong lòng dễ chịu hơn chút, hỏi: “Lão là người thế nào của nha đầu đó?”
Thợ mộc Triệu nói: “Hàng xóm mười mấy năm rồi, nha đầu kia là ta chứng kiến mà lớn lên, cũng giống như tôn nữ nhà mình vậy.”
Đào Thái phó đột nhiên cảm thấy ông già trông có vẻ dễ nói chuyện này, đang âm thầm khoe khoang với mình rằng ông có quan hệ thân thiết với nha đầu kia sao? Nghĩ đến việc mình thu đồ đệ không thuận lợi, lão liền bực bội không thèm lên tiếng nữa.
Thợ mộc Triệu nói xong lại thở dài cảm thán: “Một đứa trẻ tốt như vậy, tiếc là số khổ quá, mất đi phụ mẫu không nói, còn hòa ly với phu tế kén rể, giờ muội muội cũng không biết bị người ta bắt cóc đi đâu rồi…”
Đào Thái phó ban đầu chỉ thấy Phàn Trường Ngọc tâm tính kiên nghị hơn người, nghe thợ mộc Triệu kể về thân thế của nàng, không khỏi thêm vài phần thương cảm, kéo theo sự oán giận vì nàng từ chối bái sư cũng tan biến đi một chút, nói: “Ta có một học trò trong quân, cũng coi như là nửa đứa nhi tử của ta, hắn làm quan rồi, nha đầu kia sau này nếu không tìm được người đàng hoàng, ta bảo cái tiểu tử thối đó tìm một hậu sinh thành thật cầu tiến dưới trướng hắn để cưới nha đầu kia.”
Thợ mộc Triệu nghe lão đầu này bằng lòng quản chuyện chung thân đại sự của Phàn Trường Ngọc, càng thấy lão là quý nhân của Phàn Trường Ngọc, sau một hồi tạ ơn, hai người ngược lại càng nói chuyện càng ý hợp.
Mất đi chút thành kiến đó, Đào Thái phó thấy ông già thú y này tuy không biết mấy chữ, nhưng người lại thông tuệ, nghe ông kể chuyện tai nghe mắt thấy suốt nửa đời làm thú y và thợ mộc, cũng cảm thấy không ít thú vui dân dã.
Đợi khi Phàn Trường Ngọc sắc thuốc xong trở về, thấy hai người một vẻ như hận vì gặp nhau quá uộn, trò chuyện vui vẻ, ngược lại khiến nàng ngơ ngác không hiểu gì.
Nàng còn không biết mình đã bị họ sắp xếp cho một phu tế “hậu sinh thành thật cầu tiến” rồi.
–
Chiều ngày hôm sau, chiến báo Lư Thành đánh thắng trận đã được gửi tới doanh địa, quân Yến Châu phục kích quân Sùng Châu tại Nhất Tuyến Hiệp cũng đại thắng, còn bắt sống được Thế tử Trường Tín Vương, sĩ khí trong quân đại chấn, trên dưới một mảnh vui mừng hớn hở.
Chỉ là mưa xuân gây ra lở đất, tàn quân Yến Châu hiện tại đang bị vây hãm trên núi, Trường Tín Vương sau khi biết Lư Thành bại trận, chuyện Yến Châu mượn binh là kế sách, đại khái là bị dồn vào đường cùng, trực tiếp đi nước cờ hiểm suất lĩnh binh mã còn lại của Sùng Châu vây Nhất Tuyến Hiệp, rêu rao muốn vây chết quân Yến Châu và Vũ An Hầu trên núi.
Chủ tướng doanh địa sau khi nhận được tin trinh sát mang về, vội vàng triệu tập tất cả thuộc cấp dưới trướng, bàn bạc cách giải vây.
Hai vạn tướng sĩ đến sửa đập đều là tân binh, hầu như không có kinh nghiệm tác chiến, đêm hôm trước khi đối mặt với quân Sùng Châu đột kích mới luống cuống tay chân, để cho trinh sát chạy mất ba tên.
Nếu họ mạo muội đi Nhất Tuyến Hiệp cứu người, trên núi vừa mưa xong lại vừa xảy ra lở đất, địa thế phức tạp, lỡ đâu không cẩn thận lọt vào bẫy của quân Sùng Châu đặt ra, toàn quân bị tiêu diệt cũng là điều có thể.
Giữa lúc mọi người đang bế tắc, Đào Thái phó đang lúc phong hàn thuyên giảm đã lê thân xác bệnh tật vào trong lều trung quân, đưa ra kế sách “Vây Ngụy cứu Triệu”.
Lão nói: “Hai vạn đại quân đóng tại cửa sông này, bộ phận chủ lực tiến về Sùng Châu, vây mà không đánh, không sợ Trường Tín Vương không quay đầu trở về giữ ổ cũ. Dẫu sao Sùng Châu mà mất, ông ta dẫu có lên núi đồ sát sạch quân Yến Châu thì cũng chẳng ích gì.”
Chủ tướng mừng rỡ: “Kế này thâm diệu! Bản tướng quân lập tức hạ lệnh nhổ trại!”
Đào Thái phó phong hàn chưa dứt, ho khẽ một lúc bằng giọng khàn đặc rồi bổ sung: “Tàn quân Yến Châu bị vây trên núi, lương thảo chắc cũng không còn bao nhiêu, còn phải cử thêm người mang lương thảo qua đó.”
Yến Châu và Sùng Châu đánh một trận dã chiến, không mang theo bao nhiêu vật tư, chỉ vì sau khi thắng lợi không may gặp lở đất bị vây, mới khiến Sùng Châu giành lại tiên cơ.
Chủ tướng đã lo sốt vó, được Đào Thái phó điểm ra như vậy, vội nói: “Thái phó nói rất phải! Chỉ là đội ngũ vận lương quá lớn, khó tránh khỏi bị trinh sát Sùng Châu phát giác, tạm thời điều một ngàn binh mã mang lương thảo qua đó ứng cứu vậy.”
Lệnh điều quân và lệnh vận lương nhanh chóng được ban xuống, đại quân đều đang thu dọn đồ đạc chuẩn bị nhổ trại.
Thợ mộc Triệu phải theo đại quân đi vây Sùng Châu, Phàn Trường Ngọc vốn muốn đi cùng, nhưng nàng là phận nữ nhi, hiện tại dừng chân ở đây, một là vì lập công, hai là còn một số lưu dân sống sót cũng tạm thời được để lại đây chăm sóc, nếu cứ đi theo trong quân thì sẽ trái quân quy.
Nàng đã chặn giết ba tên trinh sát đó, chủ tướng vẫn chỉ có thể thưởng tiền vàng cho nàng, không thể phong cho nàng quân chức gì.
Tự mình lên đường cũng không phải không được, chỉ là Phàn Trường Ngọc hiện tại có chút do dự, Trường Tín Vương dẫn binh lên núi vây Vũ An Hầu, thành Sùng Châu chắc chắn là đóng chặt, nàng đi cũng không cách nào vào thành tìm Trường Ninh.
Mà thợ mộc Triệu nói Ngôn Chính hình như nằm trong số một ngàn binh tốt bị Yến Châu mượn đi, sau một trận huyết chiến, trên núi lại vì mưa lớn mà bùng phát lở đất, không biết Ngôn Chính giờ đây sống chết ra sao.
Nàng có nên đến Nhất Tuyến Hiệp trên núi tìm Ngôn Chính trước không?
Đào Thái phó khi trở về thấy Phàn Trường Ngọc đứng thẫn thờ ngoài lều, hỏi nàng: “Nha đầu, lão phu phải theo quân đưa lương thảo cho quân Yến Châu trên núi, ngươi có muốn đi cùng lão phu không?”
Phàn Trường Ngọc hai ngày nay mới biết quái lão đầu này họ Đào, và bởi vì có chút học vấn thực thụ nên dường như đã trở thành mưu sĩ trong quân, ngay cả chủ tướng cũng đối đãi với lão rất lễ độ.
Nàng nhìn khuôn mặt đầy nếp nhăn của Đào Thái phó, nghiêm túc suy nghĩ một hồi, cuối cùng cũng gật đầu.
Đi gặp Ngôn Chính một lần nữa cũng tốt, hắn nếu chết ở đó, nàng sẽ chôn cất hắn, giúp hắn lập một tấm bia.
Trong nhà hắn dường như không còn ai khác, hai người dù sao cũng quen biết một trận, làm phu thê danh nghĩa mấy tháng trời, sau này lễ tết đốt tiền vàng, nàng cũng đốt cho hắn một phần là được.
Nếu là hắn còn sống, giữa họ đại khái cũng chưa đến mức không bao giờ qua lại nữa.
Đội quân vận lương đi trước, thợ mộc Triệu đến tiễn họ, điều khiến Phàn Trường Ngọc ngơ ngác chính là, thợ mộc Triệu nói lời từ biệt với lão đầu kia thế nhưng lại còn nhiều hơn cả nói với mình.
–
Để tránh trinh sát của quân Sùng Châu, đội quân vận lương phải đi đường vòng trong núi, dù vậy vẫn chạm trán mấy đợt trinh sát, may mà trong quân có cung thủ đi cùng, truy đuổi mười mấy dặm đều bắn hạ trinh sát, mới khiến tin tức hành quân dọc đường không bị quân Sùng Châu phát giác quá sớm.
Phàn Trường Ngọc vì băng qua Vu Lĩnh giết chết ba tên trinh sát Sùng Châu nên trong số tân binh này cũng có chút danh tiếng, đôi khi truy kích trinh sát, nàng cũng được mời đi cùng.
Nàng không thạo sử dụng cung tên, khi học theo cung thủ, tuy sức lực lớn đến mức có thể trực tiếp kéo hỏng một cây cung, nhưng độ chuẩn xác cực kém, còn chẳng chuẩn bằng ném đá từ dưới đất lên.
Phàn Trường Ngọc sợ lãng phí binh khí, dứt khoát không học nữa, trên đường thấy cung thủ bắn hạ thỏ rừng cải thiện bữa ăn, nàng lại có chút thèm thuồng, luôn miệng khen ngợi cung thủ kia lợi hại.
Những tướng sĩ thâm niên hơn một chút đều cười nói: “Phàn cô nương, ngươi chưa thấy Hầu gia nhà bọn ta bắn tên đâu, tiễn thuật đó mới gọi là tuyệt đỉnh, trong vòng trăm bước đừng nói là thỏ, ngay cả lá liễu cũng bắn trúng được.”
Phàn Trường Ngọc đã nghe qua điển tích trăm bước xuyên lá dương, trăm bước xuyên lá liễu thì mới nghe lần đầu, lá liễu thanh mảnh như vậy, cách xa trăm bước sao bắn trúng được?
Khiếp sợ thì khiếp sợ, nhưng vị Vũ An Hầu năng chinh thiện chiến kia, hình tượng trong lòng nàng lại cao thêm một đoạn dài.
–
Ngày đêm lên đường hối hả đi mất một ngày rưỡi, cuối cùng cũng tới được cửa Nhất Tuyến Hiệp. Trường Tín Vương ước chừng đã nghe được tin hai vạn đại quân đi vây Sùng Châu, binh mã canh giữ dưới chân núi rút lui một chút, nhìn qua không nhiều, nhưng cũng không phải một ngàn binh mã vận lương này có thể đối phó được.
Muốn đưa lương thảo lên núi, kế sách hiện giờ chỉ có thể là trong ứng ngoài hợp, đánh cho quân Sùng Châu một vồ bất ngờ, xé ra một lỗ hổng để lẻn vào.
Nhưng binh lực của họ mỏng manh, liệu có cầm cự được đến khi người trên núi phát hiện ra họ, đến trong ứng ngoài hợp hay không vẫn là một ẩn số.
Khi Đào Thái phó và vị tiểu tướng lãnh binh lần này đang bế tắc, tình cờ gặp được viện quân bên phía Yến Châu, binh mã hai bên hợp lại được khoảng hai ba ngàn người, liền thanh thế lẫy lừng xông lên từ một yếu đạo dưới chân núi do quân Sùng Châu canh giữ.
Động tĩnh này quả nhiên thu hút sự chú ý của tàn quân Yến Châu trên núi, lập tức phối hợp với viện quân cùng hợp công quân Sùng Châu tại đây, nhanh chóng xé ra một lỗ hổng vào núi, lương thảo và một số thương dược đều được cướp đưa lên núi.
Viện quân đưa lương lại không đi theo lên núi, đợi khi tàn quân trên núi chuyển xong đồ đạc, quân Sùng Châu canh giữ ở nơi khác ập tới, họ lại rút quân lẩn vào rừng rậm, chơi trò mèo vờn chuột với quân Sùng Châu, mục đích là để sau này khi quân Yến Châu trên núi đánh xuống núi, họ có thể đón ứng từ bên ngoài.
Phàn Trường Ngọc vốn là cùng Đào Thái phó xem cuộc chiến, nhìn việc tranh cướp bốc vác vật tư lên núi quá chậm, nhìn mà sốt ruột, không nhịn được cũng cùng đi bốc vác, đợi sau khi vác những bao lương thực lớn nhỏ lên núi mới phát hiện lối ra lại bị phong tỏa, nàng và những binh tốt vận lương lên núi khác chỉ có thể ở lại trên núi.
Phàn Trường Ngọc cũng không nản lòng bao nhiêu, nàng vốn định đến tìm Ngôn Chính, đúng lúc có thể ở trên núi nghe ngóng một chút.
Các tướng sĩ Yến Châu bị vây trên núi đã hai ngày không được ăn gì, lại vừa mới sang xuân, rau dại mọc trên núi không nhiều, chỉ dựa vào chút thịt rừng săn được nấu canh, nếm chút vị thịt.
Giờ đã có gạo, tướng sĩ lập tức hăng hái nhóm lửa nấu cơm.
Tình hình thương binh trong doanh càng không lạc quan, không ít tướng sĩ vì dầm mưa nên phát sốt cao, nhưng chút dược liệu quân y mang theo không đủ dùng, còn có những người bị thương trong chiến loạn và lở đất, cũng không có thuốc cầm máu, chỉ quấn những dải vải làm từ lớp áo trong bị xé rách trên vết thương, nằm với đủ tư thế trong lều thương binh.
Giờ đã có dược liệu, quân y vội vàng cho sắc thuốc cho thương binh uống.
Phàn Trường Ngọc nhìn thấy tình cảnh thê thảm của những thương binh này có chút không đành lòng, họ không biết là phụ thân của ai, nhi tử của ai, trượng phu của ai, cũng không biết còn có thể sống sót trở về hay không.
Nàng trước kia chăm sóc Trường Ninh và Ngôn Chính, cũng coi như có kinh nghiệm sắc thuốc, thấy quân y bận rộn không xuể, bèn tự nguyện đi giúp sắc thuốc.
–
Quân y sau khi có thuốc, việc đầu tiên là mang đi thay cho Tạ Chinh, kể từ hai ngày trước gặp phải lở đất, họ bị vây hãm trên núi, bị quân Sùng Châu thừa cơ phản công chặn mất đường xuống núi, Tạ Chinh gần như chưa từng chợp mắt, luôn cùng Công Tôn Ngân vạch đối sách ngăn địch.
Vết thương trên người hắn cực kỳ nghiêm trọng, nhưng vì thuốc thang thiếu thốn, hai ngày qua không hề thay thuốc, để quân y ưu tiên dùng thuốc cho những tướng sĩ bị thương nặng trước.
Trường Ninh cơ thể cũng mạnh mẽ, sau khi uống thang thuốc đó vào hôm ấy, cơn sốt đã lùi hẳn, chỉ là vì liên tục không có gì ăn nên gầy đi thấy rõ.
Những con mồi thân binh săn về, không có muối và các gia vị khác, canh nấu ra mùi tanh rất nồng, bé ngửi thấy là nôn, căn bản không ăn nổi, Tạ Chinh sai người bôi nước cỏ lên thịt nướng, bé mới miễn cưỡng ăn một chút.
Công Tôn Ngân biết Tạ Chinh bản thân cũng mang thương tích, không tiện chăm sóc Trường Ninh, chỗ ở của hắn lại thỉnh thoảng có thuộc cấp đến bàn việc, bèn đưa đứa nhỏ đến chỗ mình ở để thân binh trông coi.
Lúc này quân y đến khuyên Tạ Chinh thay thuốc, biết được tướng sĩ hiện giờ lương thực và dược liệu đều đầy đủ, cơn chóng mặt do mất máu quá nhiều và sự mệt mỏi do hai ngày chưa chợp mắt cùng ập tới, Tạ Chinh chỉ cảm thấy mình nhắm mắt là có thể ngủ thiếp đi hoàn toàn, hắn đưa tay xoa xoa thái dương, đáy mắt toàn là tơ máu, nói: “Bản Hầu vẫn còn gượng được, đưa thuốc cho tướng sĩ dưới trướng dùng trước đi, lều thương binh bên kia quá đông người, cũng có thể chuyển một số tướng sĩ qua lều chính.”
Lều quân trên núi cũng không đủ, không ít tướng sĩ đều chặt cành cây tại chỗ, tạm thời dựng lên một cái lều trú mưa.
Quân y lo lắng cho cơ thể của Tạ Chinh, vội nói: “Hầu gia, thuốc thương đủ dùng mà, cơ thể ngài mới là quan trọng…”
Tạ Chinh bỗng nhiên ngước mắt nhìn quân y một cái, quân y bị cái ánh mắt trầm lạnh và mệt mỏi đó nhìn chằm chằm, cúi đầu xuống, mọi lời khuyên nhủ đều nghẹn lại nơi cổ họng.
Ông ta biết rõ Hầu gia nhà mình tuy hung danh vang xa, nhưng cực kỳ yêu thương binh tướng dưới trướng, thở dài một tiếng rời khỏi quân lều, thầm nghĩ quay lại vẫn phải nhờ Công Tôn tiên sinh đến khuyên.
Công Tôn Ngân nghe xong, chỉ bảo chuyển những thương binh đã băng bó xong vào lều chính.
Quân y ngơ ngác làm theo, mới hiểu ra Công Tôn Ngân là muốn Tạ Chinh nhìn thấy những thương binh đóm thì sẽ tin rằng thuốc trị thương là đủ dùng rồi.
Tạ Chinh thực sự mệt mỏi rã rời, sau khi quân y rời đi, hắn chống tay vốn định tiếp tục xoa bóp thái dương đang đau âm ỉ, nhưng không chịu nổi cơn buồn ngủ nên đã ngủ thiếp đi như vậy, thương binh được chuyển vào lều chính, hắn nghe thấy động tĩnh mới tỉnh lại.
Thân binh bày trong lều chính mấy chiếc giường quân dụng dựng tạm bằng cành cây, bảo Tạ Chinh đến một chiếc giường trống nghỉ ngơi một lát.
Tạ Chinh thấy mình ngồi ở vị trí chủ tọa khiến thương binh liên tục nhìn qua, bèn gật đầu.
Hắn bị thương ở ngực, mặc nhung giáp sẽ ép vào vết thương, nên chỉ mặc áo đơn.
Thương binh vào lều đa số đều là tiểu tốt tầng dưới chót, hầu như chưa từng thấy Tạ Chinh ở cự ly gần, mơ hồ được chuyển đến lều quân này, thấy hắn không mặc giáp, trên người lại có vết thương, còn tưởng hắn cũng là người bị thương được chuyển tới.
Tạ Chinh đã cho mượn lều chính để những thương binh này dưỡng thương, tự nhiên cũng không muốn để họ phải nơm nớp lo sợ nằm dưới mí mắt mình, dặn dò thân binh đừng tiết lộ thân phận mình, mặc nguyên quần áo nằm xuống bắt đầu ngủ bù.
Nhóm thân binh sợ hắn bị lạnh, lại không dám lấy áo choàng gấm dày đắp cho hắn, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, đành tìm một bộ binh phục tiểu tốt rách nát đắp lên người hắn.
Phàn Trường Ngọc sắc xong thuốc biết được có một nhóm thương binh được đưa đi nơi khác, bèn đến đưa thuốc, nàng đi qua từng chiếc giường quân dụng từ cửa, đưa bát thuốc, thương binh thấy nàng là một cô nương, đều có chút e thẹn, nhỏ giọng cảm ơn nàng.
Thân binh canh giữ Tạ Chinh liếc ra ngoài một cái, khi nhìn thấy Phàn Trường Ngọc, đôi mắt lập tức trợn tròn như chuông đồng.
Nếu hắn ta không nhận lầm, thì đây chính là vị cô nương mà Hầu gia nhà họ cách đây không lâu đích thân đến sào huyệt sơn tặc ở huyện Thanh Bình tìm sao?
Sao nàng lại mặc binh phục Kế Châu xuất hiện ở đây?
Thân binh lập tức bổ não ra một tiết mục ngàn dặm tìm chồng ruột gan đứt từng khúc, nhìn Tạ Chinh đang ngủ say, lại nhìn Phàn Trường Ngọc đang đưa thuốc, do dự không biết có nên đánh thức Hầu gia nhà mình hay không.
Không đợi hắn ta băn khoăn quá lâu, Phàn Trường Ngọc đã bưng bát thuốc đưa tới trước mặt.
Tạ Chinh ngại ánh sáng quá chói, nghiêng mặt ngủ vào trong, đại nửa khuôn mặt đều vùi trong bóng tối, Phàn Trường Ngọc nhất thời không nhận ra hắn, chỉ nhìn thấy nửa thân quần áo của hắn đều bị máu thấm đẫm, băng gạc quấn trên người cũng bị nhuộm đỏ một mảng lớn, không giống như vừa mới băng bó xong, người có vẻ như còn ngất đi nữa.
Nàng vội nhíu mày gọi ra ngoài lều: “Quân y, người này vết thương dường như bị rách ra rồi, phải băng bó lại mới được.”
Gần như ngay lúc nghe thấy âm thanh của nàng, Tạ Chinh liền đột nhiên mở bừng mắt.
Phàn Trường Ngọc đang chuẩn bị giúp người bị thương nặng này điều chỉnh tư thế để quay ra phía giường bên kia, không ngờ lại chạm phải ánh mắt của Tạ Chinh, cả người nàng sững lại rõ rệt, hồi lâu sau mới không chắc chắn gọi: “Ngôn Chính?”
Cái tên này vừa thốt ra, nhìn lại bộ dạng toàn thân đầy máu của hắn, mũi Phàn Trường Ngọc đột nhiên có chút cay cay.
Hóa ra hắn thực sự suýt chết ở nơi này.
Tạ Chinh nhìn Phàn Trường Ngọc không nói gì, lông mày vô thức nhíu chặt, người ngoài nhìn không ra điều gì, chỉ có người quen thuộc với hắn mới biết, hắn chính là đang đờ người ra.
Thân binh sau khi suy nghĩ cặn kẽ, lẳng lặng lùi xa ra một chút.
Những thương binh khác tưởng Phàn Trường Ngọc vượt ngàn dặm tìm chồng đến tìm Tạ Chinh, thi nhau ném tới những ánh mắt ngưỡng mộ.
Tạ Chinh nhìn Phàn Trường Ngọc hồi lâu, dường như để xác nhận nàng thực sự đã đến đây, mới khàn giọng hỏi một câu: “Sao nàng lại tới? Đến đây làm gì?”
Hắn hai đêm không ngủ, giọng nói có chút khàn.
Phàn Trường Ngọc chưa từng nghĩ lần gặp lại Tạ Chinh lại là trong tình cảnh như thế này, nàng nhìn những vết máu trên người hắn, đáy mắt bỗng nhiên có chút xót xa, nói: “Ta đến tìm huynh mà.”
Đây là lời thật lòng, nàng biết được hắn cũng ở trong đội quân Yến Châu này, sợ hắn có sơ suất gì nên mới đi theo cùng đưa lương thảo.
Tạ Chinh nghe thấy lời này, con ngươi co rụt lại một cách khó nhận ra, trái tim giống như bị một cái móc đột nhiên móc chặt lấy, nhức nhối, lại dâng lên cảm giác ngứa ngáy li ti, dường như có thứ gì đó muốn bén rễ nảy mầm trong khối xương thịt đó, đôi con ngươi tối den của hắn nhìn chằm chằm Phàn Trường Ngọc không rời: “Tìm ta?”
Phàn Trường Ngọc đã giúp hắn tháo băng gạc, nhìn vết thương dữ tợn dài ngang đại nửa lồng ngực pha lẫn nước thuốc thảo mộc và vết máu đen sẫm kia, vành mắt càng đỏ hơn, không kịp trả lời câu hỏi của hắn, mím chặt khóe môi nén lại nỗi đau trong lòng hỏi hắn: “Sao lại bị thương thành thế này?”
Còn đáng sợ hơn những vết thương trên người hắn khi nàng nhặt được hắn.
Tạ Chinh lần đầu tiên thấy trong mắt nàng lộ ra thần sắc như vậy, giống như tia sáng ban mai chiếu vào khu rừng mù sương sau cơn mưa, ấm áp, dịu dàng, rực rỡ, lại thương xót.
Cái móc nơi đầu quả tim càng móc chặt hơn, đau, lại ngứa, giống như vết thương đang thúc giục nảy mầm mới, ngón tay hắn cử động, vô thức muốn chạm vào thứ gì đó, dời tầm mắt nói: “Vết thương nhìn thì đáng sợ nhưng không nghiêm trọng đến thế, không tổn thương đến phủ tạng, nằm mấy ngày là dưỡng được ổn thôi.”
Phàn Trường Ngọc tự nhiên sẽ không tin vào lời giải thích này của hắn, nàng nhìn khuôn mặt tái nhợt còn dính máu của hắn, đột nhiên cảm thấy rất buồn, nói: “Huynh đừng tòng quân nữa, đi về với ta đi, ta mổ lợn nuôi huynh.”
Công Tôn Ngân và quân y vừa đi đến ngoài lều, đang định vén rèm lều, nghe thấy một câu như vậy, không khỏi cùng khựng lại bước chân.
Tác giả có chuyện nói:
Công Tôn: ??? Ta đã bỏ lỡ cái gì ư?
