Em Họ Tranh Cưới Nhà Giàu Nhất Huyện Trong Tương Lai, Tôi Vào Dương Thành Mở Nhà Máy
Chương 1:
Mùa hè năm 91, tôi trượt cao đẳng, chỉ thiếu đúng hai điểm là đủ điểm sàn.
Người đàn ông lái xe tải trong làng đến cầu hôn, hứa cho 6600 tệ tiền sính lễ.
Ở cái vùng nông thôn mà sính lễ chỉ vài trăm tệ này, con số 6600 khiến bố mẹ tôi mừng đến phát cuồng.
Tôi mới vừa tròn mười tám, nhất quyết không chịu lập gia đình sinh con sớm như thế được.
Nhưng lời tôi nói trong mắt bố mẹ chẳng có chút sức nặng nào.
Họ khóa chặt cửa phòng, chỉ chờ nhận tiền sính lễ để mua chiếc xe máy Gia Lăng cho đứa em trai.
Đêm trước ngày cưới, cô em họ rút then cửa sổ, qua khe đưa cho tôi 40 tệ.
“Chị, không phải chị muốn đi sao? Cầm lấy đi, đêm nay đi luôn đi.”
Tôi vừa nắm chặt tiền vào lòng bàn tay, trước mắt đột nhiên hiện ra từng dòng chữ lướt qua liên tục.
[Cái cô nữ phụ này đi thật rồi, người đàn ông cô ta không cần sau này sẽ thành nhà giàu nhất huyện đấy.][Nam chính chỉ là gặp thời xuôi nam làm ăn thôi, về sau tiền tiêu không hết.]
[Nữ chính là được sống lại đấy, quay về là để tránh người chồng nghèo kiếp trước, cướp lấy mối duyên này của chị họ.]
Tôi nhìn chằm chằm em họ, cô ta đang xoắn chặt góc áo thành một sợi dây thừng.
“Chị, còn chần chừ nữa là dượng sẽ tỉnh dậy đấy.”
Điều cô ta mong mỏi chính là tôi bỏ đi.
Tôi nhường lại vị trí này, người đàn ông đó cùng với sự giàu sang phú quý sau này của anh ta, tất cả đều thuộc về cô ta.
Tôi nhét 40 tệ vào túi áo trong sát người, gật đầu với cô ta một cái: “Em yên tâm, chị đi rồi sẽ không bao giờ về tranh với em đâu.”
—
Con đường đất đi lên huyện dài mười hai dặm, ban ngày đi không tính là xa, nhưng ban đêm lại dài như không có hồi kết.
Tôi giấu kỹ 40 tệ sát người, nương theo ánh trăng cắm đầu chạy về phía trước, đá dăm đâm thốn gót chân cũng không dám dừng lại.
Ở lại cái nhà đó mới là điều thực sự đáng sợ.
Lần này họ dùng cuộc hôn nhân của tôi để đổi lấy chiếc xe máy.
Nếu thật sự gả đi, mỗi tháng tôi kiếm được bao nhiêu, khi nào sinh con, sau này đều phải lo cho em trai trước, đến cuối cùng trong tay chẳng giắt túi được một đồng.
Tôi dù chạy chậm thế nào, cũng tuyệt đối không ngoảnh đầu lại.
Từ nhỏ, họ cũng đã sai bảo tôi như thế.
Tôi lúc bốn tuổi đã phải đứng trước chậu gỗ vò tã lót, ngón tay còn chưa với tới đáy chậu, chỉ có thể kiễng chân ấn từng miếng vải dơ em trai thay ra vào trong nước.
Mẹ tôi nằm trên giường ăn trứng hấp, còn chê tôi giặt chậm.
“Con gái nhà người ta bốn tuổi đã biết nhóm lửa nấu cơm, mày thì chỉ biết làm trò lười biếng.”
Tôi không dám khóc, nước mắt rơi vào chậu cũng chẳng ai nhìn ra.
Sau khi em trai ra đời, bố mẹ bế nó đi từng nhà hàng xóm, ai khen một câu trắng trẻo mập mạp là họ vui mừng cả nửa ngày.
Nếu tôi bị sốt, chỉ cần còn bò dậy được là vẫn phải đi cho gà ăn, quét sân, nấu cơm tối.
Lúc năm tuổi, tôi nhìn thấy lũ trẻ trong làng đeo cặp sách mới đi học, lần đầu tiên mở miệng xin bố: “Con cũng muốn đi học.”
Ông ta ngồi bệt trên ngưỡng cửa cuốn thuốc lá, đến cái liếc mắt cũng chẳng buồn nhấc lên.
“Đứa con gái biết viết cái tên mình là được rồi, học cho lắm rồi cũng là người nhà khác.”
Mẹ tôi liền chêm vào ngay: “Mày đi rồi thì việc trong nhà ai làm? Tã của thằng Diệu Tông ai giặt?”
Chiều hôm đó, bà nội nghe tin liền chống gậy bước qua cửa.
Bà nội đập mạnh xấp tiền lẻ tích góp từ việc bán trứng gà lên bàn, mười tệ được bà nội gấp phẳng phiêu ngay ngắn, các góc xơ cả ra.
“Ngày mai cho Thu Hòa đi nhập học.”
Mẹ tôi bĩu môi bảo trong nhà không có ai làm việc, bà nội giơ gậy gõ mạnh vào chân bàn.
“Hai đứa mày tay chân lành lặn là để làm cảnh đấy hả?”
“Cái nhà này hai đứa lớn mù chữ đã đủ xấu mặt rồi, còn muốn hại đứa trẻ thành mù chữ nốt sao?”
Bố tôi sợ bà nội lên Hội Phụ nữ làm ầm ĩ nên đành phải đưa tôi đến trường tiểu học trên trấn.
Được đi học thật, nhưng việc nhà chẳng giảm bớt tí nào.
Mỗi ngày tôi dậy từ lúc trời chưa sáng, bắc nồi nấu cháo rồi mới đeo cặp đi bộ bốn dặm đường.
Đi học về, việc đầu tiên là gánh nước, thái rau lợn, nấu cơm, chờ cả nhà ngủ say rồi tôi mới ngồi bên đèn dầu trải quyển vở ra.
Tim đèn không nỡ khều sáng, nhìn chữ lâu mắt sẽ bị hoa, tôi lại ghé sát quyển sách vào gần chút nữa.
Thầy cô giáo khen tôi thông minh.
Nhưng mỗi ngày vừa mở mắt ra là phải làm việc, chỉ có mấy tiếng đồng hồ ngồi trong lớp học là không ai gọi tôi đi cho gà ăn, nấu cơm.
Mùa đông năm lớp ba, tôi không có tiền đóng tiền vở bài tập, cô giáo chủ nhiệm giữ tôi lại sau giờ học.
Tôi cứ nghĩ cô giáo đòi tiền phí, nên đã chủ động nói mình có thể nhận ít đi hai quyển.
Cô rút từ trong ngăn kéo ra một xấp giấy nháp đã dùng một mặt, bảo tôi mang về đóng thành tập.
“Mặt sau vẫn còn viết được, bài vở không thể bỏ dở; sau này em có tiền rồi thì để lại vở cho học sinh khóa sau.”
Tôi ôm xấp giấy đó đi về nhà, trên đường tuyết rơi lất phất, góc giấy được tôi che chắn kỹ trong ngực áo bông, không bị ướt một tẹo nào.
Bố mẹ nhìn thấy chỉ hỏi có dán được khe cửa sổ không, tối hôm đó tôi đem khâu toàn bộ xấp giấy thành tập vở, giấu vào chiếc hộp gỗ bà nội cho.
Xấp giấy đó không giúp tôi bớt đi một đòn gánh nước nào, nhưng lại tiết kiệm được tiền hai quyển vở bài tập.
Sau này mỗi khi gặp chuyện không có tiền đóng, tôi luôn nhớ về ngăn kéo của cô giáo.
Suốt sáu năm, tôi không có lấy một bộ quần áo tươm tất, nhưng đã mang về sáu tấm giấy khen.
Thành tích của tôi luôn đứng đầu lớp, khi lên cấp hai, trường miễn toàn bộ học phí và tiền sách vở, còn thưởng cho ba mươi tệ tiền học bổng.
Mẹ tôi giật phắt tờ giấy khen thưởng từ tay tôi: “Mày ăn của nhà, ở của nhà, tiền này vốn dĩ phải nộp ra; đế giày của Diệu Tông mòn hết rồi, phải mua giày mới cho nó trước.”
“Đấy là tiền nhà trường cấp cho con để đóng tiền sách kỳ sau mà.”
“Trường học đã miễn một lần thì miễn thêm lần nữa được; giày của em mày không đợi được đâu.”
Khoản tiền đó vừa về đến nhà đã bị mẹ tôi cầm đi mua giày cho em trai.
Tôi không cãi nửa lời, chỉ cất giấy khen vào chiếc hộp gỗ cũ của bà nội.
Từ ngày hôm đó tôi đã hiểu, học giỏi không làm cho họ yêu thương tôi hơn chút nào.
Muốn tiếp tục đi học, chỉ có thể thi tốt hơn, tốt hơn nữa…
