Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 100:
Chiều đến, Phàn Trường Ngọc vừa trở về trong quân đã bị Đào Thái phó cho người gọi tới.
Nàng cứ ngỡ Đào Thái phó muốn kiểm tra số sách đã giao cho nàng chép phạt, bèn ôm xấp giấy mà Tạ Chinh đã chép hộ đi tới, nhưng lại phát hiện chỗ Đào Thái phó còn có người khác.
Đối phương trông chừng gần bốn mươi tuổi, giữa mày toát lên vẻ nho nhã thanh chính, không mặc giáp trụ, nhìn như một văn quan.
Phàn Trường Ngọc không nhận ra người này, chỉ gọi Đào Thái phó một tiếng: “Nghĩa phụ.”
Nam nhân trung niên kia từ lúc Phàn Trường Ngọc bước vào lều đã luôn chăm chú quan sát nàng, ánh mắt hiền từ lại mang theo vài phần nặng nề, cùng với sự an ủi và lo lắng không nói nên lời.
Phàn Trường Ngọc cảm thấy trong lòng rất kỳ quái, nhưng thấy đối phương không có ác ý, nàng cũng để mặc đối phương đánh giá mình.
Đào Thái phó thấy Phàn Trường Ngọc thì nói một câu: “Con đến rồi à.”
Lão dường như không có ý định giới thiệu Phàn Trường Ngọc với người kia, chỉ nói: “Đây là một vị tướng quân trong quân, nghe danh con giết chết Thạch Hổ, lấy làm hiếu kỳ, muốn xem qua chút võ nghệ của con.”
Phàn Trường Ngọc không ngờ đối phương mặc nho bào mà lại là một vị tướng quân, vội vàng ôm quyền hành lễ: “Gặp qua tướng quân.”
Nam nhân trung niên đó chính là Hạ Kính Nguyên, ông ấy nhìn thấy trên người Phàn Trường Ngọc bóng dáng của cố nhân, tâm trạng trăm mối ngổn ngang, hỏi: “Ngươi biết võ?”
Phàn Trường Ngọc đáp: “Biết một chút.”
Dù trong lòng đã có suy đoán, Hạ Kính Nguyên vẫn hỏi: “Ai đã dạy võ cho ngươi?”
Phàn Trường Ngọc nói: “Là gia phụ.”
Hạ Kính Nguyên hỏi: “Có thể cùng lão phu giao thủ vài chiêu chăng?”
Phàn Trường Ngọc nhìn sang Đào Thái phó.
Đào Thái phó vuốt râu nói: “Vị tướng quân đây cũng giỏi đao pháp, cứ để ông ấy chỉ điểm cho con một phần đi.”
Phàn Trường Ngọc bèn ôm quyền: “Xin tướng quân chỉ giáo.”
Không gian trong lều quân nhỏ hẹp, không thể thi triển được, hai người đi ra ngoài lều diễn võ, mỗi người cầm một cây đại đao cán dài.
Phàn Trường Ngọc tiên phong tấn công, đao phong thần tốc, khí thế bừng bừng không gì cản nổi, Hạ Kính Nguyên ban đầu chỉ thủ không công, vừa đánh vừa lui, cốt để nhìn kỹ chiêu thức của Phàn Trường Ngọc.
Khi lùi sát đến cạnh lều quân, ông ấy mới đột ngột chuyển thủ thành công, chiêu thức sử dụng chính là những chiêu Phàn Trường Ngọc vừa dùng.
So với sự hung mãnh thuần túy của Phàn Trường Ngọc, đao pháp của ông ấy rõ ràng trầm ổn hơn, tiến có thể công, lui có thể thủ, cương nhu nhịp nhàng.
Phàn Trường Ngọc còn định biến hóa thế công thì đã bị đối phương bắt bài một sơ hở trong phòng thủ, lưỡi đao chỉ thẳng vào cổ nàng.
Đao trong tay Phàn Trường Ngọc còn chưa kịp đưa ra, lòng nàng thầm kinh hãi, tuy thiếu kinh nghiệm thực chiến, nhưng trước kia khi bị giữ ở nhà, thú vui duy nhất của nàng là luyện bộ đao pháp phụ thân dạy, nàng tự vấn bản thân đã vô cùng quen thuộc từng chiêu từng thức.
Vậy mà lần này giao thủ với vị tướng quân này, nàng lại có ảo giác đối phương còn am hiểu bộ đao pháp này hơn cả nàng, thậm chí cách phá chiêu ra sao cũng nắm rõ như lòng bàn tay.
Thấy nàng ngẩn ngơ, Hạ Kính Nguyên thu đao hỏi: “Ngươi có biết sơ hở của chiêu vừa rồi nằm ở đâu không?”
Phàn Trường Ngọc cung kính ôm quyền: “Khẩn cầu tướng quân chỉ điểm.”
Hạ Kính Nguyên nói: “Bộ đao pháp này, hẳn là ngươi đã luyện từng chiêu từng thức quá lâu, nên ra đao mới quá cứng nhắc, cứ phải đánh xong chiêu này mới ra chiêu sau, nhưng trên chiến trường vạn biến khôn lường, một đòn không thành thì đổi đòn khác ngay, sao có thể để người ta phá chiêu là đã loạn trận chân tay?”
Lời này đã điểm đúng chỗ thiếu hụt trong đao pháp của Phàn Trường Ngọc, lúc nàng dùng đao mổ lợn, thường có thể đánh cho đối phương bất ngờ.
Nhưng khi dùng đại đao cán dài, gặp kẻ có võ công kém hơn thì nàng tất thắng, còn gặp những người tinh thông binh khí như Hạ Kính Nguyên hay Tạ Chinh, thì cực kỳ bị quản chế.
Lòng kính trọng trong Phàn Trường Ngọc tăng vọt, nàng cảm kích nói: “Đa tạ tướng quân!”
Hạ Kính Nguyên thấy nàng đã hiểu ra, đáy mắt ngoài sự phức tạp còn có chút an ủi nhàn nhạt, ông ấy nói: “Ta sẽ chỉ điểm cho ngươi thêm vài chiêu nữa.”
Hai người tiếp tục luận bàn trên khoảng trống ngoài lều quân, mỗi chiêu Phàn Trường Ngọc tung ra, Hạ Kính Nguyên đều chỉ rõ chỗ thiếu sót và dạy nàng cách phá giải.
Mãi đến khi một binh tốt dáng vẻ thân vệ tìm đến, Hạ Kính Nguyên mới dừng lại, bảo Phàn Trường Ngọc về trước tự mình nghiền ngẫm những gì đã học hôm nay.
Sau khi Phàn Trường Ngọc bái biệt Đào Thái phó, nàng mang theo một đầu đầy chiêu thức đao pháp trở về.
Đào Thái phó thấy Phàn Trường Ngọc đã đi xa mà Hạ Kính Nguyên vẫn nhìn theo hướng nàng biến mất đến thẩn thờ, bèn nói: “Trước kia ta đã cảm thấy đứa nhỏ này tính tình thực thà lại kiên nghị, dù ở hoàn cảnh nào cũng giữ được lòng lương thiện, là một mầm non tốt. Sau này nghe ngươi nói con bé là hậu nhân của lão đầu tử kia, ta mới hiểu ra, cái sự đại trí nhược ngu này thật giống hệt ngoại tổ phụ của con bé.”
Hạ Kính Nguyên trịnh trọng vái Đào Thái phó một xá: “Đứa con mồ côi của cố nhân, Kính Nguyên xin phó thác cho Thái phó vậy.”
Đào Thái phó thở dài: “Một tiểu tử, một khuê nữ, lòng bàn tay hay mu bàn tay đều là thịt cả. Nhưng chuyện cũ đều đã hóa bụi trần, khi những việc năm đó xảy ra, hai đứa khuê nữ còn chưa chào đời, can hệ gì đến chúng đâu. Dù thế nào, lão phu cũng sẽ bảo hộ chúng chu toàn.”
Hạ Kính Nguyên lại vái thật sâu một cái.
Đào Thái phó dặn: “Chỗ Cửu Hành, hãy cứ tạm thời giấu hắn.”
Hạ Kính Nguyên lo lắng: “Chỉ sợ, giấy chung quy cũng không gói được lửa.”
Đào Thái phó vỗ vai ông ấy: “Kính Nguyên à Kính Nguyên, ngươi vẫn chưa đủ hiểu vị Thừa tướng nhà ngươi rồi. Ngươi thực sự nghĩ rằng, mười mấy năm sau ông ta mới tra được nữ nhi nữ tế của Mạnh Thúc Viễn đang trốn ở huyện Thanh Bình dưới sự bảo hộ của ngươi sao?”
Hạ Kính Nguyên sững sờ.
Đào Thái phó chắp tay nhìn về phía núi xa nơi tiếp giáp chân trời, nói: “Chuyện năm đó, có lẽ không như những gì ngươi nghĩ. Ngươi và ta đều biết con người của Mạnh Thúc Viễn, lão ta vạn lần sẽ không làm ra chuyện không phân nặng nhẹ như thế. Ngặt nỗi sau khi Cẩm Châu thất thủ, lão ta đã tự vẫn trong lều, các tướng lĩnh thân cận cũng thương vong gần hết trong các trận chiến sau đó, không còn cách nào biết được chân tướng năm xưa. Nhưng nếu nói Ngụy Nghiêm một tay dàn dựng tất cả, hậu nhân Mạnh Thúc Viễn còn nắm giữ chứng cứ ông ta hãm hại, thì e là ông ta thà giết nhầm một ngàn còn hơn bỏ sót một người, sao có thể để đối phương chạy xa đến tận biên thùy, sống tạm bợ hơn mười năm trời?”
Hạ Kính Nguyên cười khổ: “Năm đó Kỳ Lâm huynh mang theo nữ nhi độc nhất của Mạnh tướng quân tìm đến ta, ta đã nghe tin dữ về việc huynh ấy cùng nữ nhi độc nhất của Mạnh tướng quân đánh xe rơi xuống vực, cứ ngỡ hai người họ đã lừa dối qua mắt được Thừa tướng, bèn giúp họ thay đổi hộ tịch để ẩn cư tại huyện Thanh Bình. Nếu như lời Thái phó nói, Thừa tướng ngay từ đầu đã có ý để lại cho họ một con đường sống, vậy tại sao sau này lại ép ta phải tự tay giết chết người huynh đệ đồng đội năm xưa, rồi ba phiên bốn lượt phái tử sĩ đến Phàn gia tìm thứ đó?”
Nếu có lão tướng ở đây, hẳn sẽ biết “Kỳ Lâm” trong miệng Hạ Kính Nguyên chính là gia tướng Ngụy Kỳ Lâm của Ngụy phủ.
Ngụy Kỳ Lâm vốn không họ Ngụy, cũng không có tên, chỉ là một gia bộc được Ngụy gia mua về huấn luyện thành tử sĩ, vì trời sinh sức mạnh phi thường, lại có thiên phú võ học nên mới được Ngụy gia bồi dưỡng thành gia tướng.
Sau này Ngụy Nghiêm gả muội muội cho Tạ Lâm Sơn, mối quan hệ qua lại giữa Ngụy gia cùng Tạ gia ngày càng thân thiết, Ngụy Kỳ Lâm được điều đến dưới trướng Tạ Lâm Sơn làm việc, nhận được sự tán thưởng của lão tướng Mạnh Thúc Viễn dưới trướng Tạ Lâm Sơn, vì Mạnh lão tướng quân chỉ có một đứa nữ nhi độc nhất nên đã ở rể Mạnh gia.
Ngụy Kỳ Lâm này, chính là Phàn Nhị Ngưu sau này.
Hạ Kính Nguyên luôn lo sợ một điều, đó là Ngụy Kỳ Lâm vốn là một quân cờ do Ngụy Nghiêm sắp đặt, trở thành kẻ đẩy Mạnh lão tướng quân vào cảnh chậm trễ vận lương.
Ngoại tổ phụ của Thừa Đức Thái tử là Thích lão tướng quân, vốn là ân sư của Tạ Lâm Sơn, sau khi cả Thích giá tử trận, Thích gia quân bị đánh tan đã cải tổ thành Tạ gia quân, từ trên xuống dưới đều trung thành tuyệt đối với Thái tử.
Theo lý mà nói, Ngụy Nghiêm cũng nên là người thuộc đảng Thái tử, nhưng ông ta vốn dĩ cấp tiến, bất đồng chính kiến với Thừa Đức Thái tử, từng bị Thái tử khiển trách nhiều lần, có một dạo còn bị ghẻ lạnh.
Liên tưởng đến việc sau khi Thừa Đức Thái tử qua đời, Tiên đế băng hà, Ngụy Nghiêm phò tá ấu đế thượng vị, nắm giữ triều chính hơn mười năm… Trong lòng Hạ Kính Nguyên mơ hồ có một suy đoán, nhưng điều đó quả thực quá sức hoang đường.
Ngặt nỗi về đoạn chuyện cũ ở Cẩm Châu năm đó, Ngụy Kỳ Lâm nhất quyết không hé môi nửa lời, nói rằng sợ sẽ mang lại tai họa cho ông ấy.
Hạ Kính Nguyên biết cái chết của Mạnh Thúc Viễn chắc chắn có uẩn khúc, chẳng gì thì lão vừa chết, nữ nhi nữ tế cũng “rơi xuống vực”, thế là bao nhiêu tội trạng của thất bại tại Cẩm Châu đều bị đổ dồn hết lên đầu họ.
Hạ Kính Nguyên thở dài một tiếng nặng nề: “Nếu năm đó khi Kỳ Lâm giao những thứ kia cho ta, ta mở ra xem thì nay đã chẳng cần phải nghi kỵ chẳng đặng đừng thế này.”
Nhưng nếu lúc đó mà xem, đừng nói là bảo vệ hai tỷ muội Phàn Trường Ngọc, e rằng chính ông ấy cũng khó bảo toàn mạng sống.
Trên đời này chẳng mấy ai mạng lớn được như Tạ Chinh, có thể thoát thân toàn vẹn từ tay đám tử sĩ mà Ngụy Nghiêm nuôi dưỡng, huống hồ ông ấy không phải cô độc, còn có vợ con là cái uy hiếp.
Đào Thái phó biết trong lòng ông ấy không dễ chịu, bèn nói: “Mọi chuyện vẫn chưa phải là cát bụi lắng đọng, hãy cứ chờ xem sao. Lão phu rời núi chính là lo lắng có kẻ rắp tâm mượn trận chiến Cẩm Châu năm đó để biến Cửu Hành thành quân đao. Cái chết của Lâm Sơn suy cho cùng vẫn là một rào cản trong lòng đứa trẻ đó, ta sợ hắn mắc mưu kẻ khác.”
Hạ Kính Nguyên tự hỏi mình nhìn nhận cục diện hiện tại đã đủ thấu đáo, nhưng trong lòng vẫn đầy rẫy nghi vấn, ông ấy hỏi: “Hạ mỗ ngu muội, khi dân gian truyền ra những điểm nghi vấn về trận Cẩm Châu, mũi dùi đều chỉ thẳng vào Thừa tướng. Ý của Thái phó là có người muốn dẫn dụ Hầu gia và Thừa tướng trai cò tranh nhau?”
Đào Thái phó nói: “Ta và Ngụy Nghiêm không tính là thâm giao, những năm qua bất kể là dân gian hay triều đình, đối với ông ta đều là tiếng chửi rủa vang trời. Có lẽ quả thật ngồi ở vị trí đó quá lâu nên quyền thế đã làm thối nát tâm can. Nhưng đúng như lời ngươi nói, ngược dòng thời gian mười mấy năm về trước, ông ta đối với xã tắc Đại Dận cũng có thể coi là tận tụy hết lòng. Nếu không có ông ta gánh vác tiếng xấu để nghị hòa đình chiêsn với ngoại bang, Đại Dận đã chẳng thể thở phào mà gượng dậy được. Năm đó để ta nhận Cửu Hành làm học trò, cũng là ông ta nhờ vả phu tử của thư viện Nam Sơn, mượn danh nghĩa của Tạ Lâm Sơn đi đường vòng khuyên nhủ ta, xem ra là sợ ta vì bất đồng chính kiến với ông ta mà không chịu nhận đứa học trò Cửu Hành này.”
Đào Thái phó vốn xuất thân từ thư viện Nam Sơn.
Hạ Kính Nguyên không ngờ Ngụy Nghiêm lại vì Tạ Chinh mà mưu tính đến nhường này, trước đây ông ấy cũng được coi là tâm phúc của Ngụy Nghiêm, tình cờ vài lần thấy Ngụy Nghiêm đối đãi với Tạ Chinh, ông ta đối với đứa ngoại sanh này trước nay chưa bao giờ nể mặt.
Ngay cả khi Tạ Chinh thành danh lúc thiếu thời, được ban thưởng, ông ta cũng chỉ lạnh lùng khiển trách, mắng Tạ Chinh phù phiếm tự mãn.
Cả phủ Thừa tướng đều biết Ngụy Nghiêm không thích đứa ngoại sanh Tạ Chinh, nhưng sau lưng lại vung tiền như rác để mời Đào Thái phó về dạy hắn…
Trong phút chốc, mối nghi ngại trong lòng Hạ Kính Nguyên càng sâu thêm.
Ông ấy nói: “Thừa tướng nếu yêu quý Hầu gia, lại vì cớ gì mà ở trên chiến trường Sùng Châu dồn Hầu gia vào chỗ chết?”
Đôi mắt già nua của Đào Thái phó nheo lại, ánh mắt sắc lẹm không gì cản nổi: “Vụ án Cẩm Châu năm đó chắc chắn có liên quan đến Ngụy Nghiêm, chỉ là trong đó có lẽ còn ẩn tình gì đó mới khiến ông ta thay đổi thất thường như vậy. Ta sẽ đích thân vào kinh gặp ông ta một chuyến. Trước khi ta quay về, ngươi đừng nói cho Cửu Hành biết chuyện về Mạnh gia.”
Lão dừng lại một chút rồi nói tiếp: “Phía Lý gia đã tra ra không ít thứ, e là cũng sẽ có hành động, khuê nữ kia ta mài giũa cũng không kém là bao, để con bé lên chiến trường lập thêm vài quân công đi. Nếu bị Lý gia phá hỏng cục diện, khiến tiểu tử thối kia biết chuyện trước thì bên cạnh con bé có người dùng được, ta cũng không cần lo lắng cho con bé nữa.”
Hạ Kính Nguyên nghe Đào Thái phó đã tính sẵn đường lui cho Phàn Trường Ngọc, chỉ cảm thấy trong lòng chua xót, vô cùng cảm kích nói được.
–
Kinh thành.
Sau buổi bãi triều, văn võ đại thần lục tục bước ra khỏi Kim Loan Điện, đám quan lại vây quanh Ngụy Nghiêm và Lý Thái phó chia làm hai ngả mà đi.
Khi Ngụy Nghiêm bước xuống từ bậc thềm đá cẩm thạch trắng, ông ta vừa vặn chạm mặt Lý Thái phó đang đi xuống từ phía bên kia của bậc thềm ngăn cách bởi hình rồng chạm khắc.
Cả hai đều là những con cáo già lăn lộn nhiều năm trong chốn quan trường, vừa chạm mặt, một người thì lạnh lùng uy nghiêm, một người thì ôn hòa gần gũi.
Sau một hồi đối mắt, Lý Thái phó dẫn đầu chắp tay với Ngụy Nghiêm: “Ngụy Thừa tướng.”
Dáng người lão ta gầy gò, râu tóc bạc phơ, trông già hơn Ngụy Nghiêm rất nhiều, chỉ là sự ôn hòa đó lại không được thông tuệ như Đào Thái phó, vì vậy dù trông có vẻ dễ gần nhưng lại khó lòng thực sự thân thiết.
Ngụy Nghiêm chỉ hờ hững nhấc tay, đáp lại một câu: “Lý Thái phó.”
Ông ta giá không hoàng quyền hơn mười năm, khí thế uy nghiêm trên người không hề thua kém bậc đế vương.
Lý Thái phó cười híp mắt nói: “Trên chiến cục Tây Bắc, phản tặc bị Vũ An Hầu và Hạ tướng quân chia quân kiềm chế, nay đã không còn sức chống trả. Bệ hạ long nhan vui mừng, nghĩ rằng tin chiến báo chẳng mấy ngày nữa sẽ gửi về kinh. Lý mỗ xin chúc mừng Thừa tướng trước.”
Trên mặt Ngụy Nghiêm không lộ chút cảm xúc gợn sóng nào, chỉ nói: “Chuyện lớn của nước nhà, cùng vui.”
Cuộc giao phong của hai người, đến đây là kết thúc.
Bất kể cục diện triều đình hiện nay thế nào, thiên hạ chửi rủa Ngụy Nghiêm bao nhiêu, nhưng ông ta quả thực là người đứng đầu quan trường Đại Dận. Ông ta trực tiếp bước qua mặt Lý Thái phó, vạt áo quan đỏ thẫm bay trong gió, bước chân ung dung xuống bậc thềm tiếp theo, trái phải không ai dám nói một lời không phải.
Mãi đến khi Ngụy Nghiêm đi xa, đám quan lại sau lưng Lý Thái phó mới dám phẫn nộ lên tiếng: “Ngụy Nghiêm kia thật quá mức cuồng vọng! Hoàng thất Đại Dận này hiện giờ vẫn còn họ Tề!”
Lý Thái phó nhàn nhạt liếc nhìn kẻ vừa nói: “Thủ Nghĩa, chớ có nói bừa!”
Giọng không lớn, thậm chí chẳng thấy giận dữ, nhưng lại dọa quan viên kia vội vàng cúi người hành lễ, liên thanh nói: “Là hạ quan lỡ lời…”
Lý Thái phó không nói gì thêm, cùng các quan viên khác rời đi. Quan viên nọ mới run cầm cập nhìn lại Kim Loan Điện sau lưng, nâng ống tay áo lau mồ hôi lạnh trên trán.
Lý gia ba đời đều nhập sĩ, nhưng người làm đến tứ phẩm trở lên, có thể cùng Lý Thái phó lên triều chỉ có trưởng tử Lý Viễn Đình.
Sau khi hai cha con Lý gia lên xe ngựa, Lý Viễn Đình liền nói: “Phụ thân, Vũ An Hầu không đánh Sùng Châu mà chuyển sang bao vây Khang Thành, xem ra đã nhìn ra chúng ta muốn đoạt chiến công Sùng Châu nên cố ý đứng ngoài cuộc. Nhưng trong buổi triều sớm nay, Bệ hạ đối với Vũ An Hầu vẫn khen ngợi có thừa, lời lẽ giữa chừng dường như có ý muốn gả Trưởng công chúa cho. Ngụy Nghiêm chưa đổ, nhưng Bệ hạ đã bắt đầu kiêng dè Lý gia chúng ta rồi…”
Lý Thái phó nhắm mắt hỏi: “Phía Hoàng hậu thế nào rồi?”
Lý Viễn Đình có chút khó khăn nói: “Nương nương… vẫn chưa thể có thai.”
Lý Thái phó là đế sư của Thiên tử, năm đó tiểu Hoàng đế vì muốn bồi dưỡng Lý gia đối kháng Ngụy Nghiêm nên đã lập nữ nhi Lý gia chưa đầy mười ba tuổi làm Hậu.
Nhưng năm tháng trôi qua, Hoàng hậu vẫn luôn không có tin vui.
Lý Thái phó hỏi: “Thái y nói sao?”
Lý Viễn Đình nói: “Thái y cũng không nhìn ra là bệnh chứng gì.”
Lý Thái phó mở mắt ra, nói một câu đầy ẩn ý: “Bệ hạ quả thực đã trưởng thành.”
Lý Viễn Đình tuy đọc đủ thứ thi thư, nhưng ông ta lớn lên dưới danh tiếng hiền nho của phụ thân, từ nhỏ đã nỗ lực hướng tới chữ “hiền”, những năm này học vấn càng ngày càng tốt, nhưng con người lại càng thêm cổ hủ, khả năng xét đoán thời thế thậm chí không bằng con của mình là Lý Hoài An.
Lúc này nghe lời Lý Thái phó, nhất thời không hiểu ý, hỏi: “Phụ thân nói vậy là có ý gì?”
Lý Thái phó nhìn trưởng tử: “Con có nhớ năm đó Ngụy Nghiêm đã làm thế nào giữa một đám hoàng tử để chọn Bệ hạ, người không có mẫu tộc che chở mà kế vị không?”
Lý Viễn Đình suy nghĩ một lát, trên mặt đột nhiên lộ vẻ kinh hãi: “Là Bệ hạ cố ý không để Hoàng hậu mang thai?”
Năm đó Ngụy Nghiêm chọn vị Hoàng đế hiện tại kế vị, chính là nhắm vào việc hắn ta không có ngoại thích, Tiểu Hoàng đế muốn ngồi vững đế vị, thì chỉ có thể nghe theo Ngụy Nghiêm.
Cứ như vậy, Ngụy Nghiêm gần như đương nhiên mà giá không hoàng quyền.
Tiểu Hoàng đế vì cầu sự che chở, đã giả vờ ngoan ngoãn trước mặt Lý Thái phó mười mấy năm, nay cũng dần lộ ra nanh vuốt của mình.
Dưới sự nâng đỡ nhiều năm của hắn ta, Lý gia ở triều đình đã như mặt trời ban trưa, Tiểu Hoàng đế cũng sợ sau khi lật đổ Ngụy đảng, Lý gia sẽ là Ngụy đảng tiếp theo, nên không dám để Hoàng hậu mang thai.
Dù sao đại quyền trong tay hắn ta vẫn chưa thu hồi hết, một khi Lý Hoàng hậu có thai, sau này chỉ cần hắn ta có ý định diệt trừ Lý gia, không chừng Lý gia sẽ ra tay trước cả hắn ta, học theo Ngụy Nghiêm phò tá tiểu Hoàng tử lên ngôi.
Lý Thái phó không tiếp lời, coi như mặc nhận lời của trưởng tử.
Lý Viễn Đình lộ vẻ phẫn nộ: “Chẳng trách Bệ hạ muốn gả Trưởng công chúa cho Vũ An Hầu, hắn đây là muốn sau khi Ngụy Nghiêm ngã đài sẽ dùng Vũ An Hầu để kiềm chế Lý gia ta! Người ta nói chim hết thì cất cung, Ngụy Nghiêm vẫn còn đang nắm giữ triều chính mà Bệ hạ đã đối đãi với Lý gia ta như thế này, đợi đến khi trừ được Ngụy Nghiêm, Lý gia ta liệu còn sống yên ổn được sao?”
Lý Thái phó lại nói: “Thôi đi, từ xưa lòng Đế vương vốn khó dò.”
Lý Viễn Đình cuống quýt: “Phụ thân, phải nghĩ cách gì đi chứ, Bệ hạ hôm nay đối đãi với Ngụy Nghiêm thế nào thì e rằng ngày mai sẽ đến lượt Lý gia chúng ta!”
Lý Thái phó thong thả mở lời: “Trong thiên hạ này, chẳng phải vẫn còn một người khác có tư cách kế vị đại thống hơn sao?”
Toàn thân Lý Viễn Đình rùng mình: “Ý người là… hậu nhân của Thừa Đức Thái tử?”
Lý Thái phó không tiếp tục chủ đề này nữa, chỉ hỏi: “Hoài An ở Kế Châu đã tra được những gì?”
Lý Viễn Đình sực nhận ra cuộc trò chuyện vừa rồi với Lý Thái phó có ý nghĩa gì, sống lưng không khống chế được mà rịn đầy mồ hôi lạnh, đáp: “Ngụy Nghiêm có thể ngồi vững ghế Thừa tướng ngần ấy năm, dưới tay quả thực có vài kẻ dùng được. Hạ Kính Nguyên ở Kế Châu mười mấy năm, vậy mà không có lấy nửa điểm tham ô. Hoài An tra xét mấy tháng, chỉ tra được vụ án khả nghi về gia đình đồ tể mà năm ngoái Ngụy Nghiêm phái một lượng lớn tử sĩ đi giết.”
Lý Thái phó khẽ động mi mắt hỏi: “Đám tử sĩ đó không phải đi giết Vũ An Hầu sao?”
Lý Viễn Đình nói: “Hoài An tra được hồ sơ điều binh của phủ Kế Châu, khi Ngụy Nghiêm phái tử sĩ tới, phía Hạ Kính Nguyên cũng điều binh tới tương trợ. Xem ra giống như một bên muốn giết, một bên muốn cứu. Nhưng Hạ Kính Nguyên hành sự như vậy, sau khi Ngụy Tuyên gây họa trưng lương ở Tây Bắc, Hạ Kính Nguyên đã cấp báo tám trăm dặm sai người gửi đồ về cho Ngụy Nghiêm, Ngụy Nghiêm liền không có nửa lời trách tội.”
Ông ta liếc nhìn sắc mặt phụ thân mình, tiếp tục: “Phu thê đồ tể kia, trên bản ghi chép là chết dưới tay sơn phỉ, nhưng sau đó Hoài An thẩm vấn đám sơn phỉ bị bắt sống, bọn chúng đồng thanh đáp không hề sát hại gia đình đồ tể. Hoài An đào sâu hồ sơ vụ án của tên đồ tể đó, phát hiện ông ta mới trở về huyện Thanh Bình mười bảy năm trước, còn mang theo một nữ nhân lai lịch bất minh. Thân phận đồ tể mười bảy năm trước của ông ta đều là mượn danh nghĩa của một tiêu sư.”
Lý Thái phó nói: “Nhìn khắp cả phủ Kế Châu, kẻ có thể ngụy tạo hộ tịch văn thư và các lý lịch văn thư khác, cũng chỉ có Hạ Kính Nguyên mới có quyền hạn này.”
Lão ta nhìn trưởng tử: “Con nói là Hạ Kính Nguyên đang giúp tên đồ tể kia che giấu điều gì? Và vẫn luôn che chở cho gia đình đồ tể đó?”
Lý Viễn Đình gật đầu: “Đúng là như vậy.”
Lý Thái phó im lặng hồi lâu.
Mười bảy năm trước, con số này quá nhạy cảm.
Mười bảy năm trước đã xảy ra biết bao nhiêu chuyện?
Lão tướng Mạnh Thúc Viễn dưới trướng Tạ Lâm Sơn coi thường quân lệnh, trên đường vận lương đã đi cứu mười vạn dân thị trấn biên thùy bị vây hãm, làm lỡ chiến cơ, hại Thừa Đức Thái tử và Tạ Lâm Sơn tử chiến ở Cẩm Châu, sau đó tự vẫn tạ tội, trên lưng bị bêu danh thiên cổ.
Cùng năm đó Đông cung bốc hỏa, Thái tử phi và Hoàng trưởng tôn đều bị thiêu chết.
Lý Thái phó chậm rãi nói: “Con nói xem, thứ mà Hạ Kính Nguyên đưa cho Ngụy Nghiêm là cái gì?”
Trong lòng Lý Viễn Đình chấn động, nói: “Tiếc là Hạ Kính Nguyên làm việc cẩn trọng, Hoài An đã không tra thêm được gì khác.”
Lý Thái phó lại bảo: “Chúng ta không tra được thì cứ để kẻ tra được đi tra.”
Lý Viễn Đình lưỡng lự: “Ý của ngươi là… báo lên Hoàng thượng?”
Lý Thái phó đáp: “Triệu đại nhân ở Ngự Sử đài có câu nói đúng, thiên hạ Đại Dận này vẫn là họ Tề.”
Triệu đại nhân ở Ngự Sử đài mà lão ta nói, chính là vị ngôn quan đã phẫn nộ lên tiếng sau khi Ngụy Nghiêm rời đi lúc trước.
Lý Viễn Đình liền biết mình đã đoán đúng ý phụ thân.
Xe ngựa đã dừng, Lý Viễn Đình đích thân dìu Lý Thái phó xuống xe, trước cửa nhà nô bộc thị vệ đông đúc, hai người không bàn chuyện quốc sự nữa, đợi khi vào phủ, Lý Viễn Đình mới nói: “Mượn tay Bệ hạ có thể trừ bỏ Hạ Kính Nguyên, chặt đứt một cánh tay của Ngụy Nghiêm. Nhưng phụ thân đã muốn ủng lập vị ở Sùng Châu kia rồi, nếu để Bệ hạ ban hôn Đại Trưởng công chúa cho Vũ An Hầu, có được trợ lực này, e rằng cục diện tiếp theo đối với chúng ta lại cực kỳ bất lợi.”
Lý Thái phó nhướng mí mắt nói: “Nghe Hoài An nói bên cạnh Vũ An Hầu có một nữ tử?”
Lý Viễn Đình vội đáp: “Chính là nữ nhi của đồ tể kia, khi Hoài An mới đến Kế Châu gặp phải nạn cướp, chính là thân binh của Vũ An Hầu giả làm binh sĩ phủ Kế Châu đi cứu nữ tử đó. Mà nay nữ tử kia đang ở trong quân Kế Châu, còn được Đào Thái phó nhận làm nghĩa nữ, xem ra rất được Vũ An Hầu coi trọng.”
Bước chân Lý Thái phó hơi khựng lại: “Đào Dịch cái lão già kia sao?”
Mí mắt lão ta sụp xuống, màu mắt vì già nua mà có vẻ hơi nhạt, một lúc sau mới nói: “Nghĩ cách truyền tin này đến tai Trưởng công chúa.”
Lý Viễn Đình vâng lệnh.
Lão ta tuy hiếm khi nhúng tay vào chuyện nội đình nhưng cũng hiểu rõ, nữ tử kia đã nhận Đào Thái phó làm nghĩa phụ thì thân phận đã không còn bình thường, rõ ràng Vũ An Hầu không định chỉ thu nữ tử kia làm thị thiếp.
Đại Trưởng công chúa tâm cao khí ngạo, chắc chắn là không dung thứ được.
Hoàng đế muốn mượn việc ban hôn để lôi kéo Vũ An Hầu, nhưng rốt cuộc chuyện này sẽ thành kết minh hay kết oán thì vẫn chưa biết chừng.
–
Vài ngày sau, một phong sớ hạch tội Hạ Kính Nguyên ngụy tạo hồ sơ, che giấu nạn cướp đã được đệ lên trước mặt Hoàng đế.
Hạ Kính Nguyên là người của Ngụy Nghiêm, lúc này lại đang thống lĩnh binh mã tiêu diệt phản tặc Sùng Châu, trị tội ông ấy vào lúc này thì phía Hoàng đế cũng khó xử, bèn đem phong sớ này giao cho bách quan nghị luận xem nên xử trí thế nào ngay trên triều.
Bách quan lâm vào cảnh khó xử, bên hạch tội là người của Lý Thái phó, bên bị hạch tội là người của Ngụy Nghiêm, cho bọn họ mượn thêm một trăm lá gan họ cũng không dám dính dáng vào cuộc đảng tranh đòi mạng này.
Trong buổi triều sớm hôm đó, chỉ còn lại Ngụy đảng và Lý đảng cãi vã không dứt.
Cuối cùng Hoàng đế lấy lý do chiến sự làm trọng, tạm thời ép chuyện này xuống.
Sau khi bãi triều, Ngụy Nghiêm và Lý Thái phó lại một lần nữa đường hẹp tương phùng tại cuối bậc thềm đá cẩm thạch trắng.
Lý Thái phó vẫn là bộ mặt tươi cười, chắp tay nói: “Người già rồi, đám môn sinh chủ kiến lớn quá, quản không nổi. Chuyện trên triều sớm, Thừa tướng chớ để bụng.”
Kẻ hạch tội Hạ Kính Nguyên chính là môn sinh của Lý Thái phó.
Ngụy Nghiêm lần này ngay cả lễ cũng không thèm đáp, đôi mắt ưng đảo qua, uy nghiêm đáng sợ: “Lý Thái phó già rồi, quả thực có thể học tập Đào Thái phó. Năm đó Đào Thái phó biết rút lui đúng lúc, nay không chỉ bách quan trong triều mà ngay cả Bệ hạ cũng luôn nhớ đến cái tốt của lão ta, chẳng phải sao?”
Nụ cười trên mặt Lý Thái phó khựng lại đôi chút.
Ngụy Nghiêm lúc này mới hờ hững nhấc tay nói: “Thái phó cứ việc cân nhắc kỹ đề nghị của Ngụy mỗ, Ngụy mỗ xin đi trước một bước.”
Sau khi Ngụy Nghiêm đi xa, sắc mặt Lý Thái phó cũng trầm xuống.
–
Ngụy Nghiêm lên kiệu, vẫn luôn nhắm nghiền hai mắt, gương mặt cương nghị lạnh lùng.
Hành động này của Lý Thái phó là đang ép Hoàng đế thẩm vấn Hạ Kính Nguyên.
Hoàng đế vì chiến sự Sùng Châu mà tạm thời đè chuyện này xuống, nhưng đợi khi đánh xong trận Sùng Châu, không cần Lý gia nhắc, Hoàng đế cũng sẽ tự mình đưa chuyện này ra nghị sự lại.
Mười bảy năm, tiểu Hoàng đế cũng dần đủ lông đủ cánh, muốn đoạt quyền từ tay ông ta rồi.
Chuyện Hạ Kính Nguyên giúp tên phản đồ kia ngụy tạo thân phận một khi bại lộ, thảm án Cẩm Châu năm xưa chắc chắn sẽ bị nhắc lại, vụ án cũ mà ông ta luôn muốn dìm xuống, e rằng sẽ phải đối mặt với việc thẩm tra lại.
Hồi lâu sau, ông ta mở đôi mắt ưng, chậm rãi nói: “Hạ Kính Nguyên, không cần giữ lại nữa.”
Bên ngoài kiệu, một bóng đen nhanh chóng lướt đi.
