Hầu Phu Nhân Và Đao Mổ Lợn [Trục Ngọc]
Chương 30: Dáng Vẻ Chật Vật Với Khóe Mắt Vương Lệ Cùng Đuôi Mắt Đỏ Hoe
Người hầu lập tức cẩn trọng quan sát sắc mặt Ngụy Nghiêm.
Ông ta trầm giọng nói một câu: “Mang lại đây.”
Lúc này người hầu mới đi đến cửa thư phòng, bưng chiếc hộp gấm kia đặt lên bàn viết.
Đôi mắt phượng của Ngụy Nghiêm tuy đã già nua nhưng vẫn sắc bén như cũ, ông ta ước lượng chiếc hộp trước mặt, chiếc hộp này rõ ràng đã có nhiều năm tuổi, lớp gấm dán trên thân hộp đã ngả sang màu vàng.
Ông ta mở ổ khóa, mở nắp hộp ra, sau khi nhìn thấy vật đặt bên trong, ánh mắt ông ta lập tức phủ một tầng âm mưu u ám.
Người hầu thấy sắc mặt ông ta thay đổi, vội vàng liếc nhìn vật trong hộp, sau đó đại kinh thất sắc nói: “Hạ… Hạ Kính Nguyên đã xem bức thư này rồi sao?”
Thứ đặt trong hộp gấm là một phong thư và một miếng lệnh bài sắc đen.
Ngụy Nghiêm giơ tay cầm bức thư lên, thấy phong bì đã cũ kỹ nhưng miệng thư vẫn còn nguyên vẹn, hơn nữa bên trên không có bất kỳ tên người gửi nào, trông giống như từ lâu đã có người dùng một chiếc phong bì mới để bọc lấy thứ bên trong.
Ông ta trầm giọng: “Ông ta không dám xé ra.”
Ông ta giơ tay xé phong bì, bên trong quả nhiên là một bức thư khác đã được mở từ trước. Giấy viết thư và vỏ phong bì đều đã vàng ố, còn dính những vết máu khô bị phong hóa thành màu vàng nhạt.
Trên vỏ phong bì viết mấy chữ “Mạnh Thúc Viễn thân khải” vô cùng cứng cáp và có lực.
Ngụy Nghiêm hiệp thiên tử lấy lệnh chư hầu nhiều năm, tuy ở triều đình bị người đời phê phán, nhưng nét chữ ấy cũng thuộc hàng có danh tiếng trong số các đại gia thư pháp đương đại.
Phàm là bất cứ ai từng thấy qua mực tích của ông ta, đều có thể nhận ra chữ trên phong bì là do ông ta đề.
Khi nhìn thấy thư tín bên trong, thần sắc vốn lạnh lùng của Ngụy Nghiêm mới dịu đi đôi chút, chỉ có điều đôi mắt vẫn sắc như chim ưng: “Thứ ta sai tử sĩ hiệu chữ Huyền đi lấy, tại sao lại rơi vào tay Hạ Kính Nguyên?”
Người hầu cúi đầu, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng: “Lão nô lập tức sai người đi tra.”
Ngụy Nghiêm lại xua tay ra hiệu không cần, ông ta thấy đi kèm với hộp gấm còn có một bản tấu chương gửi từ Kế Châu, sau khi mở ra xem xong, ông ta ném bản tấu lên bàn, nói: “Ông ta đang cầu xin ta tha cho hai đứa nữ nhi của kẻ phản chủ kia.”
Người hầu bên cạnh Ngụy Nghiêm hầu hạ đã nhiều năm, tự nhiên là kẻ biết phỏng đoán lòng người, liếc nhìn nội dung trên tấu chương của Hạ Kính Nguyên viết về việc sơn phỉ tập kích huyện Thanh Bình, giết hại nhiều hộ lương dân, nay đạo tặc đã bị đền tội, liền hiểu được ý tứ trong lời nói của Ngụy Nghiêm.
Hạ Kính Nguyên đã tìm lại được thứ Ngụy Nghiêm muốn, hy vọng Ngụy Nghiêm cứ thế dừng tay, tha cho hai đứa nữ nhi của người nọ.
Ánh mắt người hầu khẽ động, nói: “Hạ tướng quân đại để cũng là nể tình đồng liêu xưa cũ. Trước đây ngài vì muốn thử thách lòng trung thành của Hạ tướng quân mà sai ông ấy đi giết hai người kia, chẳng phải ông ấy cũng đã làm theo đó sao? Xem ra Hạ tướng quân đối với ngài vẫn luôn trung thành, chẳng qua là lòng dạ nữ nhân mà thôi.”
Ngụy Nghiêm cười lạnh: “Ngươi nói xem ông ta là đã sớm cầm được thứ này, hay thực sự giống như lời ông ta nói trong tấu chương, lầm tưởng là nạn trộm cướp huyện Thanh Bình nên xuất binh tiêu diệt rồi lỡ tay bắt được tử sĩ chữ Huyền, mới biết lão phu đang tìm vật này?”
Người hầu cân nhắc đáp: “Sau khi ngài sai ông ta đi giết hai người kia, chẳng phải đã phái người tới giám sát rồi sao. Hạ Kính Nguyên trông có vẻ không biết đến thứ này, nghĩ lại chắc là vế sau.”
Ngụy Nghiêm lạnh lùng nói: “Thà giết lầm một ngàn, còn hơn bỏ sót một người. Ông ta tuy chưa mở bức thư này, nhưng có thể nghĩ đến việc dùng nó để cầu ta tha cho nữ nhi kẻ phản chủ, hẳn đã đoán được đây là vật gì rồi.”
Người hầu cẩn thận hỏi: “Ý của ngài là, muốn đối xử với ông ta giống như đối với Hầu gia…”
Người hầu làm một động tác cắt cổ.
Ngụy Nghiêm nhìn chằm chằm bản tấu trên bàn, trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng lắc đầu: “Trận chiến Cẩm Châu đã trôi qua hơn mười sáu năm, vài tháng trước chuyện về Thừa Đức thái tử và Tạ Lâm Sơn mới đột ngột bị nhắc lại trong dân gian, Chinh nhi đi điều tra kỹ lưỡng các cuốn hồ sơ về trận chiến này, nghĩ lại cũng là do có kẻ dụng tâm dẫn dắt. Kẻ đứng sau màn kia còn chưa lộ diện mà đã ép lão phu phải bẻ gãy con dao tốt nhất trong tay mình.”
Ngụy Nghiêm nói đến đây, giọng điệu đột nhiên trở nên sắc lẹm: “Hiện tại chiến cuộc Sùng Châu đang rơi vào bế tắc, có lẽ cũng do kẻ đứng sau màn kia âm thầm giở trò. Nếu lại bẻ gãy thêm con dao Hạ Kính Nguyên này, vùng đất Tây Nam có thể dâng cho người khác luôn rồi. Kẻ phản chủ kia cũng là người biết điều, không hề nói cho hai đứa nư nhi biết nửa điểm chuyện năm xưa. Hai đứa nha đầu ranh không đáng ngại, tạm thời để lại mạng sống cho chúng đi.”
Người hầu tán tụng: “Thừa tướng anh danh.”
Trong lòng cũng hiểu rõ, ông ta thỏa hiệp giữ lại mạng cho Hạ Kính Nguyên chẳng qua là vì sau khi Hạ Kính Nguyên biết được chân tướng trận chiến Cẩm Châu vẫn có thể bị ông ta sử dụng, còn kẻ đã phản bội ông ta thì dưới gối chỉ có hai đứa nữ nhi, phận nữ tử thì báo thù cái nỗi gì? Không cần lo lắng về mầm họa.
Nhưng Tạ Chinh thì khác, thù giết cha không đội trời chung.
Cho nên người trước mắt này mới tiên hạ thủ vi cường, đặt bẫy trong chiến cuộc Sùng Châu, khiến vị chiến thần phong hầu bằng quân công khi vừa độ tuổi nhược quán của Đại Dận phải ngã xuống nơi đó.
Ngụy Nghiêm không màng tới lời nịnh hót của người hầu, liếc nhìn tờ giấy thư đã ố vàng trải qua mười sáu năm quang âm lần cuối, rồi giơ tay ném vào chậu than bên cạnh bàn.
Than xương bạc đang cháy đỏ rực lập tức thiêu cháy tờ giấy thành một lỗ thủng lớn, theo vết cháy màu nâu thẫm lan rộng, cả tờ giấy thư dần bị ngọn lửa nuốt chửng, binh qua lẫn máu tươi của mười sáu năm trước dường như cũng hóa thành khói bụi trong ánh lửa này, không còn ai biết được chân tướng năm đó nữa.
Trong đáy mắt Ngụy Nghiêm phản chiếu ánh lửa, ông ta trầm giọng nói: “Chiến cuộc Sùng Châu cứ giao cho Hạ Kính Nguyên trước đã, những kẻ dốc lòng muốn mang trận chiến Cẩm Châu mười sáu năm trước ra ánh sáng sẽ không bỏ cuộc đâu. Sai tử sĩ hiệu chữ Địa đi giám sát chặt chẽ một chút, nếu còn có dị động, lão phu nhất định phải thấy được con chuột đang trốn trong bóng tối khuấy đảo phong vân kia!”
Người hầu hỏi: “Liệu có phải là phe cánh của Lý Thái phó…”
Ngụy Nghiêm lắc đầu, trên khuôn mặt già nua tự có một vẻ thong dong như núi cao vực sâu: “Lão già kia nếu đã nhận ra manh mối của trận chiến Cẩm Châu năm đó thì đã không đợi đến mười sáu năm mới nhắc lại chuyện cũ.”
Ông ta chậm rãi nói: “Năm đó sau khi Thừa Đức thái tử tử trận, Đông Cung bốc cháy, Thái tử phi và Hoàng tôn đều mạng táng trong biển lửa, Thái tử phi còn có nửa khuôn mặt để nhận dạng, nhưng Hoàng tôn lại bị thiêu thành một xác khô, chỉ mong kẻ chết năm đó thực sự là Hoàng tôn.”
Người hầu nghe ra ẩn ý trong lời ông ta, mồ hôi lạnh thấm đẫm cả người, nói: “Người có thể chết cùng Thái tử phi chắc chắn phải là Hoàng tôn không thể nghi ngờ, trong Đông Cung ngoài Hoàng tôn ra, làm gì còn bé trai nào cùng độ tuổi đó nữa?”
Ngụy Nghiêm chỉ đáp: “Chỉ hy vọng là vậy.”
–
Kế Châu.
Vốn dĩ là đêm giao thừa, nhưng vì quân đội triều đình chiến bại ở Sùng Châu, Kế Châu lại nằm sát vách Sùng Châu nên toàn bộ quan viên từ thất phẩm trở lên trong phủ Kế Châu đều không được yên ổn đón tết, họ bị gọi đến nha môn phủ Kế Châu để bàn bạc đối sách.
Một phong thư báo được gửi tới bàn viết của Hạ Kính Nguyên, sau khi mở ra xem, Hạ Kính Nguyên chỉ thở dài: “Trưởng tử của Thừa tướng là đang hiềm ngọn lửa trên chiến trường Sùng Châu cháy còn chưa đủ lớn sao!”
Trịnh Văn Thường đứng phía dưới hỏi: “Đại nhân cớ sao lại nói lời ấy?”
Hạ Kính Nguyên đưa công văn có đóng dấu của Tây Bắc Tiết độ sứ cho thuộc hạ, các quan viên trong thư phòng truyền tay nhau xem, sau đó bàn tán xôn xao.
Trịnh Văn Thường giận dữ: “Toàn bộ triều Đại Dận có một kinh mười bảy phủ, Tây Bắc chiếm bốn phủ, Sùng Châu đã phản, chỉ còn lại ba phủ Huy Châu, Kế Châu, Thái Châu, Huy Châu là nơi đóng quân, triều đình để làm suy yếu binh quyền của Tiết độ sứ từ trước đến nay nghiêm cấm nơi đóng quân tích trữ lương thực hay trồng trọt, hiện tại cả vùng Tây Bắc chỉ còn hai phủ Kế Châu, Thái Châu là có thể cung cấp lương thực, vậy mà Ngụy Tuyên hắn lại muốn hai phủ chúng ta trong vòng ba ngày, mỗi phủ phải trưng thu đủ mười vạn thạch lương thực, đây chẳng phải là làm khó người ta sao!”
Một quan viên khác nói: “Nghe nói Thái Châu không trưng thu được lương, ngày hôm qua Tiết độ sứ mới phái quân đội đến cưỡng chế thu lương, ngay cả hạt giống lúa mà nông dân giữ lại cũng bị quan binh cướp mất! Dân chúng đừng nói đến việc trồng trọt mùa xuân năm sau, qua được mùa đông khắc nghiệt này mà không chết đói đã là may lắm rồi!”
“Những binh tướng dưới trướng Ngụy Tuyên kia có coi dân chúng là người đâu, nghe nói còn đánh chết không ít nông dân không chịu nộp lương, chuyện này chắc vẫn chưa truyền ra ngoài. Một khi đã truyền ra, ác danh của Ngụy gia lại thêm một dòng!”
Hạ Kính Nguyên nghe các phủ thần dưới trướng tranh cãi ồn ào nhưng không lên tiếng, đến khi họ cãi vã dữ dội nhất, ông ấy mới hỏi một câu: “Vì cớ gì năm nay Tây Bắc lại không trưng thu được lương thực?”
Lương thảo cho mười vạn quân sĩ ở đại doanh Huy Châu xưa nay đều do triều đình cấp xuống, chẳng qua vì Sùng Châu loạn lạc làm gián đoạn đường vận chuyển nên lương thảo mới chậm trễ không tới nơi.
Nếu trận chiến Sùng Châu kết thúc sớm hơn thì cũng không đến nỗi rơi vào cảnh này. Nhưng trớ trêu thay, Vũ An hầu chiến thần của Đại Dận đã ngã xuống nơi đó, ảnh hưởng đến sĩ khí ba quân
Tân Tiết độ sứ Ngụy Tuyên lại là kẻ hám công, để nhanh chóng nắm được mười vạn binh quyền ở Huy Châu đã giáng chức hoặc điều những trọng tướng dưới trướng Vũ An Hầu đi xa.
Đám thuộc hạ mà hắn ta mang tới căn bản không thông thuộc chiến cuộc Tây Bắc, liên tiếp đánh thua mấy trận, sĩ khí hết lần này đến lần khác bị tổn hại, trực tiếp kéo dài chiến tuyến, tiêu sạch lương thảo dự trữ trong đại doanh Huy Châu.
Huy Châu báo nguy, theo lý mà nói thì ba phủ khác của Tây Châu có thể tiếp tế trước, dù giờ chỉ còn lại hai phủ cũng không đến mức một chút lương thảo cũng không thu nổi.
Trịnh Văn Thường vốn nóng như pháo đốt, ôm quyền nói: “Thuộc hạ đã sai người đi tra, cách đây không lâu có một thương nhân họ Triệu đã thu mua rất nhiều lương thực tại hai phủ Kế, Thái với giá cao, dân chúng chỉ giữ lại hạt giống mùa xuân và lương thực thô để tự ăn, còn lại đều bán lấy tiền để tiêu tết.”
Hạ Kính Nguyên nói: “Tra xem thương gia họ Triệu đó là ai.”
Trịnh Văn Thường vâng lệnh.
Hạ Kính Nguyên nói: “Hôm nay là đêm giao thừa, không bàn việc nữa, tất cả về sớm đi.”
Đám quan viên phía dưới vốn dĩ ai nấy đều mặt mày ủ dột, nghe thấy lời này thì mừng rỡ ra mặt, nhưng vẫn kìm nén ý cười, quy củ hành lễ rồi mới lần lượt rời đi.
Chỉ có Trịnh Văn Thường vẫn cau chặt đôi lông mày.
Mọi người trong phòng đã đi sạch, chỉ còn mỗi mình hắn ta đứng chôn chân tại chỗ.
Hạ Kính Nguyên đứng dậy từ sau bàn viết, thấy hắn ta vẫn đứng đó, không nhịn được hỏi: “Sao không về nhà?”
Trịnh Văn Thường lo lắng nói: “Đại nhân, Ngụy Tuyên đã chỉ đích danh muốn phủ Kế Châu chúng ta gom đủ mười vạn thạch gạo trong ba ngày, nếu ba ngày sau không lấy ra được thì biết làm thế nào?”
Hạ Kính Nguyên nói: “Chẳng phải ta đã bảo ngươi đi tra thương gia họ Triệu kia sao?”
Trịnh Văn Thường không nói gì, thương gia kia đã mua lương từ sớm, dù có tra được mà lương thực đã bán đi nơi khác, cũng là nước xa không cứu được lửa gần.
Hạ Kính Nguyên bỗng dừng bước, nhìn chàng thanh niên trước mặt mình, ánh mắt ôn hòa mà đầy sức mạnh: “Ngươi muốn ta giống như Ngụy Tuyên, sai thuộc hạ đi cướp lương thực trong tay bách tính?”
Trịnh Văn Thường vội nói không dám, nhưng trên mặt vẫn có chút do dự: “Nhưng… phía Ngụy gia bên kia thì ngài ăn nói thế nào?”
Hạ Kính Nguyên nói: “Luôn có cách, nhưng cách đó không phải là kề dao vào cổ bách tính. Văn Thường, triều thần sĩ tử mắng chúng ta là đảng phái gì không quan trọng, quan trọng là bản thân chúng ta phải hiểu rõ, chức quan này là làm vì bách tính Đại Dận.”
Trịnh Văn Thường hổ thẹn cúi đầu: “Hạ quan đã thụ giáo.”
Hạ Kính Nguyên không nói thêm gì nữa.
Bên ngoài tuyết rơi như lông ngỗng, ông ây bước ra khỏi thư phòng, điều ông ấy đang nghĩ đến là thứ mà ông ấy đã gửi về kinh thành sau khi biết tin chiến sự Sùng Châu thất lợi, hẳn là Ngụy Nghiêm đã xem được rồi.
Lệnh điều động từ kinh thành được gửi tới trước khi Ngụy Tuyên làm khó, vậy thì Ngụy Tuyên không đáng ngại.
Ngụy Tuyên hiện tại vội vàng trưng lương, đại để cũng là sợ bị Ngụy Nghiêm trách phạt, nên mới nôn nóng muốn lập công.
Tây Bắc không có người, Ngụy Nghiêm có thể dùng chỉ còn lại một mình ông ấy, ông ấy mạo hiểm dùng cách đó để đổi lấy một con đường sống cho hai tỷ muội kia, ước chừng là có thể thành công.
Điều ông ấy có thể làm, cũng chỉ có bấy nhiêu thôi.
Nghe tiếng pháo nổ vang lên từ những con ngõ xa xa, đáy mắt Hạ Kính Nguyên lộ ra chút cảm xúc phức tạp và bùi ngùi: “Dịp lễ tết, luôn phải đốt chút đồ cúng cho những người bên kia. Có một vị cố nhân, sẽ không còn ai nhớ để đốt tiền giấy cho hắn nữa. Ta không còn mặt mũi nào gặp hắn. Văn Thường, ngươi theo ta ra ngoài thành một chuyến, thay ta đốt chút tiền giấy cho cố nhân.”
Trịnh Văn Thường vâng lệnh.
Một cỗ xe ngựa lăn bánh ra khỏi thành chủ Kế Châu, dừng lại ở một sườn núi.
Gió núi gào rít, Hạ Kính Nguyên tự tay thắp nhang, hướng về phía Bắc vái ba vái rồi cắm vào đất, sau đó tránh đi, chỉ để Trịnh Văn Thường đốt hết tiền vàng mã ở đó.
Gió cuốn lấy lưỡi lửa, những xấp tiền giấy chưa kịp cháy hết bị thổi bay tứ tán, trong làn tuyết trắng xóa lẫn lộn với những tờ tiền giấy trắng tinh, vô hình trung hiện lên vài phần thê lương thảm đạm.
Khi Trịnh Văn Thường đốt xong đồ cúng đi xuống dốc thấp, thấy Hạ Kính Nguyên đang quay lưng về phía sườn dốc, thần sắc có chút bi thương.
Lúc quay về, hắn ta không nhịn được nói: “Đại nhân xưa nay khoan hậu, tại sao lại nói không còn mặt mũi gặp cố nhân?”
Hạ Kính Nguyên nhắm mắt ngồi trên xe ngựa, như đang chợp mắt, nghe vậy chỉ đáp: “Dưới thời cuộc, luôn có những việc bất đắc dĩ phải làm.”
–
Trấn Lâm An.
Trên mặt đất đầy tuyết bị giẫm nát phủ những tờ tiền giấy bị ngấm nước mục rữa.
Khi gió thổi mạnh, vẫn có không ít tiền giấy bị cuốn bay lên.
Đường sau khi tuyết tan rất khó đi, bùn lầy khắp nơi, Phàn Trường Ngọc bế Trường Ninh đi trên bờ ruộng, Tạ Chinh mặt không cảm xúc xách giỏ tre đựng đầy nến thơm giấy tiền đi theo phía sau.
Theo truyền thống của trấn, ngày trừ tịch phải đến trước mộ người thân đã khuất để thắp nhang, đốt nến và hóa vàng mã.
Phụ mẫu của Phàn Trường Ngọc được chôn cất trên một ngọn núi có phong thủy cực tốt bên ngoài trấn.
Vì là mộ mới nên trước mộ gần như không có cỏ dại, đến nơi, Phàn Trường Ngọc đặt Trường Ninh xuống.
Phụ mẫu đã qua đời gần hai tháng, Trường Ninh nhìn thấy hai nấm mộ kia, trong đôi mắt to tròn như hạt nho lập tức rưng rưng nước mắt: “Phụ thân, mẫu thân…”
Phàn Trường Ngọc xoa đầu bào muội, dỗ dành: “Đừng khóc, ngày tết mà, phải vui lên một chút, phụ mẫu nhìn thấy chúng ta rồi, ở trên trời mới yên tâm được.”
Tiểu Trường Ninh cố gắng hít hít mũi, kìm nén nước mắt.
Sau khi Phàn Trường Ngọc thắp nhang và nến, nàng bảo Trường Ninh quỳ lạy trước mộ, còn mình thì lấy tiền giấy trong giỏ tre ra đốt vào một chiếc chậu sắt chuyên dụng để đựng tro giấy.
Trường Ninh lạy xong cũng ngồi xổm xuống đốt tiền giấy cùng Phàn Trường Ngọc, thấy Tạ Chinh đứng một bên, bé chia một xấp tiền giấy lớn cho hắn: “Tỷ phu đốt vàng mã!”
Tạ Chinh hơi do dự một chút, cũng cầm tiền giấy lên đốt, mùi tro giấy có chút nồng nặc, khói bốc lên khiến Trường Ninh không mở nổi mắt, chỉ đành lánh sang một bên trước.
Bên cạnh chậu lửa chỉ còn lại Phàn Trường Ngọc và Tạ Chinh.
Tạ Chinh chú ý thấy nàng chia tiền vàng mã trong giỏ thành bốn phần, bèn hỏi một câu: “Còn hai phần kia là cho ai?”
Phàn Trường Ngọc nói: “Ngoại tổ phụ và ngoại tổ mẫu của ta, trước đây đều là phụ mẫu ta đốt đồ cúng cho họ, nay phụ mẫu cũng đi rồi, đơn giản đốt chung cho họ luôn.”
Tạ Chinh bất động thanh sắc nhíu mày, mẫu thân của nàng đến cả họ gốc của mình còn không biết, làm sao biết được sinh thần bát tự của phụ mẫu mình?
Hắn càng lúc càng cảm thấy trên bài vị của mẫu thân nàng là cố ý che đi cái họ.
Còn về việc tại sao phụ thân nàng không che đi họ của mình, hoặc là họ Phàn không phải họ gốc của phụ thân nàng, hoặc là… phụ thân nàng trước đây đã dùng một cái họ khác.
Tuy trong lòng đã có nghi vấn, nhưng hắn hoàn toàn không có ý định hỏi họ của tổ phụ nàng.
Hắn đã có thể đoán trước kết quả, hỏi rồi nàng cũng chẳng biết gì.
Phàn Trường Ngọc thấy hắn im lặng, tưởng hắn nhớ đến phụ mẫu đã khuất của mình, bèn hào phóng nói: “Trong nhà vẫn còn dư tiền giấy, lát nữa huynh cũng đốt một ít cho phụ mẫu mình đi.”
Đầu ngón tay thon dài của Tạ Chinh kẹp một tờ tiền giấy đang bị lưỡi lửa cuốn cháy, đôi lông mày hiện lên vài phần đạm mạc trong ánh lửa và khói bụi: “Đốt những thứ này, thực sự có ích sao?”
Câu hỏi này Phàn Trường Ngọc thực sự không trả lời được, nàng nghĩ một lát rồi nói: “Có lẽ là có ích đấy, các cụ đều nói, người ở bên kia không thể thiếu tiền để lo lót cho quỷ sai, nếu không sẽ phải chịu khổ, cho dù không có ích thì đó cũng là một cái tưởng niệm.”
Mỗi dịp lễ tết có người đốt tiền giấy, chứng tỏ thế gian này vẫn còn có người nhớ đến người đã khuất kia.
Tạ Chinh không nói thêm gì nữa, thỉnh thoảng lại ném một xấp tiền giấy vào chậu lửa, mi mắt hắn hơi rũ xuống, khiến người ta không thể phân biệt được ý vị trong ánh mắt của hắn.
Hắn ném quá nhiều tiền giấy, chưa kịp cháy hết đã đè lên nhau tạo thành khói mù mịt, Phàn Trường Ngọc bị hun đến mức nước mắt suýt trào ra, nàng nhắm mắt quay mặt sang một bên nói: “Cùng một lúc huynh đừng cho vào nhiều quá.”
Nàng đưa tay định lấy tiền giấy trong giỏ tre, nhưng không chạm vào tiền giấy mà lại chạm vào một bàn tay to lớn hơi lành lạnh.
Phàn Trường Ngọc như bị điện giật, vội vàng buông ra, mở đôi mắt hạnh đã rưng rưng vì bị khói hun, vừa ngượng ngùng vừa chật vật: “Xin lỗi.”
Mu bàn tay vẫn còn vương lại cảm giác ấm áp đó, Tạ Chinh khẽ mím môi, vốn định nói “không sao”, nhưng ngước mắt nhìn thấy dáng vẻ chật vật với khóe mắt đẫm lệ, đuôi mắt đỏ hoe của nàng, nhất thời nao nao.
